Đăng ký beat mới!.
Hiển thị các bài đăng có nhãn mix nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mix nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Kiến thức mix nhạc - không gian

KHÔNG GIAN ÂM THANH 3 CHIỀU TRONG CÁC BẢN MIX CA NHẠC
Không gian âm thanh 3 chiều trong các bản mix ca nhạc 
 
 
 
[+] Click vào để xem hình lớn
A. Âm Thanh Mono Và Âm Thanh Stereo
Âm thanh mono khác với âm thanh stereo như thế nào? Tôi biết chắc là rất ít người nghe ra được không gian âm thanh qua cặp loa được đặt trước mặt, nhưng khi nghe qua cặp loa đeo trên đầu (headphones) thì sẽ phân biệt được âm thanh mono so với âm thanh stereo.

Khi nghe bằng cặp loa đeo trên đầu (headphones) hoặc cặp loa nhét vào tai (earphones) thì sẽ nghe âm thanh bản mix mono gom tại đỉnh đầu, còn âm thanh bản mix stereo sẽ nghe âm thanh bên trái và bên phải tách biệt nhau với giọng hát, trống và bass "bay" ở dỉnh đầu. Nhiều người lầm tưởng đó âm thanh 3 chiều - bên trái, ngay đỉnh đầu và bên phải, nhưng thật ra chỉ là âm thanh 3 nơi.

Hãy nghe thử 2 files sau đây với headphones (hoặc earphones):
- Âm thanh mono
- Âm thanh stereo

B. Âm Thanh Stereo 3 Chiều

Âm thanh 3 chiều gồm có chiều rộng, chiều sâu và chiều cao.

Hãy nghe bản mix này của Alan Parsons với cặp loa được bố trí hai bên, trước mặt với khoảng cách bằng nhau từ loa đến loa và đến đầu người (tạo thành tam giác đều): 
Blue Blue Sky 1

Lưu ý: sẽ không nghe được không gian âm thanh với loa của laptop.

Nếu ai chưa nghe ra thì hãy nghe lại bản mix này cùng lúc với lời giải thích sau:

– Khi giọng hát với đàn guitar thùng xuất hiện thì nghe ra ngay nền âm thanh chim chóc ở sâu sau tiếng hát và tiếng đàn - chiều sâu. Giọng hát rất thực, như đang hát trước người nghe trong công viên. Vì là ngoài trời, không có bao che nên... không có không gian của khán phòng, nên không có tiếng vang dội.

– Tiếng máy bay phản lực bay từ phải qua trái - chiều rộng.

– Tiếng máy bay phản lực đầu tiên bay xé âm thanh trên đầu còn chiếc thứ hai thì bay ngay tầm mắt - chiều cao.
C. Khác biệt giữa bản mix 3D với bản mix không có 3D: 
Đây là nhận xét về sự khác biệt giữa cách mix một ca khúc có âm thanh 3D so với các cách mix không có 3D.:

1. Bản mix 3D có âm thanh rõ nét, trong sáng, "bén" hơn bản mix không 3D.

2. Không gian nền nhạc trong bản mix 3D bao rộng từ trái qua phải giữa 2 loa và có độ vòm.

Bản mix không 3D cũng có thể có không gian rộng từ trái qua phải (do mix với tracks stereo) nhưng không có độ vòm; tệ hơn nữa là toàn bộ âm thanh bị gom giữa.

3. Nghe rõ vị trí các nhạc cụ trong bản mix 3D. Tổng thể âm thanh có chiều rộng, độ rộng, chiều sâu, độ sâu và độ cao.

Bản mix không 3D có thể nghe nhạc cụ xa gần, có độ cao nhưng không có độ sâu, độ rộng; tệ hơn nữa là toàn bộ âm thanh đập vào mặt người nghe.

4. Trong bản mix 3D, nghe rõ âm thanh của từng nhạc cụ và giọng hát, không có âm thanh đè nhau.

Trong bản mix không 3D, giọng hát, trống và bass đè nhạc cụ đệm.

5. Giọng hát trong bản mix 3D nghe ở chung không gian với nhạc đệm, tuy nghe lọt vào phía trong nhạc đệm (nhạc đệm bao quanh toàn bộ giọng hát) nhưng vẫn nghe rất rõ và điều cần phải chú ý: giọng hát từ phía trong bay ra 2 bên tai người nghe.

Còn giọng hát trong bản mix không 3D nằm ngoài không gian nhạc đệm, được gom ở giữa nên lộ rõ ra phía trước (đập vào mặt người nghe) và không bay ra 2 bên tai người nghe = giọng hát đè nền nhạc.

6. Âm lượng vừa nghe với nền nhạc trong sáng, rõ nét từng nhạc cụ và không gian bản mix 3D nghe rất dễ chịu vì có khoảng cách giữa người nghe và âm thanh = bản nhạc đang được biểu diễn trước mặt người nghe.

Âm lượng của bản mix không 3D nghe to, ồn và âm thanh nền nhạc thì nhòe = bản nhạc đập thẳng vào mặt người nghe.

Hãy nghe file âm thanh sau đây qua 2 loa trước mặt, không nghe bằng headphones, không nghe qua loa laptop. File âm thanh này gồm trích đoạn của 2 bản mix, bản mix đầu không có không gian 3D và bản mix sau có không gian 3D.
So sánh âm thanh không và có 3D

Và nghe trích đoạn 2 bản mix tiếp theo đây để hiểu về không gian âm thanh 3D stereo (chứ không phải là âm thanh surround 5.1):

– bản mix với không gian 3D:  
Trích đoạn La Sagrada Familia

– bản mix không có không gian 3D: 
Trích đoạn Gởi người yêu dấu
Đắc Tâm

KHÔNG GIAN BIỂU DIỄN TRONG CÁC BẢN MIX ÂM NHẠC
Không gian biểu diễn trong các bản mix âm nhạc 
 
 
 
[+] Click vào để xem hình lớn
Khi nghe một bài nhạc (ca khúc, nhạc hòa tấu, khí nhạc), hiếm người để ý đến không gian âm thanh mà bài nhạc đang biểu diễn vì cách nghe nhạc phổ biến hiện nay là nghe qua iPod, nghe qua điện thoại di động, nghe qua tai nghe mono/stereo với bài nhạc được nén theo mp3, AAC, wma...thay vì ở dạng wave nguyên thể 44.1kHz 16bit.
Chính vì cách nghe này nên tại Việt Nam, hình thành một kiểu mix âm thanh duy nhất nhằm làm cho rõ ca khúc: âm lượng thật to, toàn bộ nhạc cụ bị gom giữa nên âm thanh ồn và nhòa còn giọng hát thì lộ thật rõ ra phía trước và bay lên trên cao. Phòng thu nào mix với âm lượng to nhất, ồn nhất được đánh giá là phòng thu nổi tiếng.

Cách mix với âm lượng đã làm mất hết tính âm nhạc tinh tế trong bản phối âm - không thể nghe âm thanh của từng nhạc cụ trong tổng thể hòa âm; làm mất đi cảm nhận về không gian biểu diễn của bài nhạc - khán phòng hòa nhạc giao hưởng, sân khấu nhà hát, sân khấu phòng trà, sân khấu ngoài trời, sảnh hòa nhạc thính phòng...

Tôi có thể nói, cách mix âm thanh với âm lượng và không có hiệu quả không gian biểu diễn hiện nay được thực hiện bởi những "chuyên viên âm thanh" không hiểu biết gì về âm thanh (acoustics) hoặc có hiểu biết về âm thanh nhưng không nắm được cách mix để tạo ra không gian âm thanh mong muốn. Tại Việt Nam, hiện chưa có trường đào tạo chuyên môn chánh qui trong lãnh vực âm thanh nên kỹ thuật mix âm thanh thường do mày mò với các trình cài đặt sẳn (presets) của các thiết bị cứng đắt tiền. Đến khi có kỹ thuật thu âm và mix âm thanh trên phần mềm, thì việc mix cũng lại dựa vào các trình cài đặt sẳn của các VST plugins (các phần mềm tạo hiệu quả âm thanh) và đựa vào hiệu quả âm thanh được cài đặt sẳn trong các VSTi (phần mềm âm thanh nhạc cụ ảo).

Hãy nghe các bản mix sau đây với 2 loa trước mặt (không là loa laptop, không là loa vi tính, không là loa đeo tai, không là headphones) để cảm nhận về việc tái hiện không gian biểu diễn trong bản mix:

– Bản mix không có không gian biểu diễn và chỉ với âm lượng to: 
Bản mix với âm lượng

– Bản mix nhạc giao hưởng - không gian phòng hòa nhạc giao hưởng: Trích đoạn Serenade for Strings Orchestra in C major Opus 48

– Bản mix rock sân khấu ngoài trời

– 
Bản mix rock không gian sân khấu nhà hát

– 
Bản mix nhạc acoustic Jazz không gian phòng trà

– 
Bản mix phòng hòa nhạc thính phòng

– 
Bản mix với âm sắc tinh tế sân khấu ngoài trời

Các chuyên viên mix âm thanh của Việt Nam cần phải nghiên cứu về cách nghe không gian âm thanh phù hợp cho từng thể loại nhạc và phải học kỹ thuật mix kỹ hơn nữa để tạo được không gian âm thanh theo yêu cầu của thể loại nhạc sẽ được mix.

Đắc Tâm

Kiến thức mix nhạc - Compressor - Nén

Compr... nen

Compressor1

Compressor là một thiết bị xử lý tín hiệu tự động. Nói một cách chính xác thì đây là một thiết bị chỉnh âm lượng tự động, nếu âm lượng to vượt ngưỡng (threshold) thì tự giảm xuống. Trong trường hợp ta tăng âm lượng của tín hiệu thì tín hiệu nhỏ sẽ được tăng lên mà tín hiệu to vượt ngưỡng sẽ không bị to quá. Do vậy âm thanh sẽ cân bằng hơn.
Threshold
Ngưỡng (threshold) là một mức độ hạn chế tín hiệu do mình tự đặt. Đó là điểm mà tín hiệu sẽ bị ảnh hưởng. Ở ngưỡng là 0 dB thì có nghĩa là chúng ta không nén gì cho tín hiệu âm thanh.
Ratio
Số lượng tín hiệu bị giảm đi được xác định bằng tỷ lệ nén (Ratio). Chẳng hạn, với tỷ lệ 4:1 có nghĩa là khi số lần trung bình của tín hiệu đầu vào vượt ngưỡng là 4dB thì tín hiệu đầu ra chỉ còn vượt ngưỡng là 1 dB. Âm lượng vượt ngưỡng sẽ bị cắt đi là 3 dB. Tương tự như vậy, khi tín hiệu đầu vào vượt ngưỡng 8 dB, thì tín hiệu đầu ra chỉ còn 2 dB, âm lượng bị giảm là 6 dB.
Để hiểu rõ hơn ta xem minh họa sau, với tỷ lệ nén là 4:1
Ngưỡng (Threshold) để là            = −10 dB
Tín hiệu đầu vào (Input) là          = −6 dB (vượt ngưỡng là 4 dB)
Tín hiệu đầu ra (Output) còn        = −9 dB (chỉ 1 dB vượt ngưỡng)
Com1

Attack là thời gian tín hiệu bị nén nhanh hay chậm, khi tín hiệu đến ngưỡng.
Release là thời gian nhanh hay chậm khi tín hiệu bị nén hạ xuống. Trong một số compressor thì thời gian attack và releasecó thể chỉnh được, nhưng trong một số Compressor lại được tự động và không thể điều chỉnh được. Khi chúng ở chế độ tự động thì sẽ tùy thuộc vào tín hiệu đầu vào
Com2
Nén Hard Knee và Soft Knee
Một số Compressor cho phép ta chọn hard knee hay soft knee. Nút này cho phép ta thay đổi hình dạng của góc tín hiệu nén (xem hình trên).  Soft knee tăng dần tỉ lệ nén (ratio) khi tín hiệu tăng cao cho đến khi tới tỷ lệ nén đã được đặt trước. Nếu ta dùng một compressor bình thường, sẽ không có gì xảy ra khi tín hiệu ở dưới ngưỡng, và khi tín hiệu vượt ngưỡng thì compressor sẽ hoạt động và cắt đi các phần vượt ngưỡng. Chẳng hạn ta dùng tỉ lệ RATIO là 4:1thì khi tín hiệu vượt ngưỡng cứ mỗi 4 db tín hiệu đầu vào, compressor sẽ chỉ cho phép 1db vượt ngưỡng. Với Compressor có chức năng nén Hard Knee, thì mức độ tín hiệu bị nén đầy đủ, ngay khi tín hiệu bắt đầu vượt ngưỡng.
Comp3
Soft Knee thì làm việc theo nguyên lý khác, nó nén tín hiệu dần dần khi tín hiệu bắt đầu vượt ngưỡng. Khi tín hiệu đầu vào trong khoảng 10 dB cách ngưỡng thì  compressor bắt đầu nén từ từ với một tỉ lệ thấp, sau đó nó dần tăng lên khi tín hiệu đầu vào tới dần ngưỡng, và khi tín hiệu thực sụ chạm đến ngưỡng thì compressor sẽ nén đầy đủ theo như tỉ lệ đã đặt.
Soft Knee giảm đi những thay đổi có thể nhận biết được từ khi tín hiệu chưa bị nén đến khi bị nén, đặc biệt ở những tỷ lệ nén cao, nơi mà sự thay đổi tổng thể dễ dạng nhận thấy được. Soft knee không nén theo kiểu đợi tín hiệu lên đến ngưỡng và bất thình lình nén đầy đủ theo một tỉ lệ đã đặt mà nó nén tín hiệu một cách từ từ, do vậy âm thanh sẽ mềm hơn và thích hợp khi ta mix tổng thể hoặc những khi âm thanh mềm mại.
Ta dùng Compressor để khống chế cường độ tín hiệu đầu vào, trong trường hợp muốn tín hiệu khi thu được nhỏ và tối ưu hơn tín hiệu đầu vào. Ngoài ra còn dùng để tối ưu tín hiệu đầu ra và tăng cường tính cách của nhạc cụ. Khi tín hiệu đã có vài hiệu ứng Effect rồi thì ta nên để ngưỡng thấp và tỉ lệ nén thấp để cho tín hiệu không bị nén nhiều quá. Để làm mềm tiếng của trống Snare ta dùng thời gian attack nhanh và thời gian release nhanh vừa và kết hợp với  ngưỡng để cao. Để nhấn mạnh vào lực gõ trống snare ta sẽ chọn thời gian attack chậm hơn để tránh ảnh hưởng đến tín hiệu ban đầu.
Cũng nên nhớ là compressor có thể dùng để làm nổi bật những đoạn nhạc có cường độ nhẹ, đẩy âm thanh đã nén nổi lên phía trước. Từ đó những âm thanh trầm sẽ bị kéo lùi về sau và những đoạn nhạc tín hiệu yếu sẽ được tăng cường.
Compressor và Limiter giống nhau, đều là một thiết bị sử lý tín hiệu tự động, chỉ khác ở chỗ mức độ ảnh hưởng đối với phần tín hiệu vượt qua ngưỡng. Compressor thì hoạt động như một thiết bị điều chỉnh âm lượng một cách mềm mại và và không ảnh hưởng nhiều đến quá trình xử lý audio, nhưng Limiter thì can thiệp vào quá trình sử lý tín hiệu nhiều hơn, giảm âm lượng của tín hiệu rõ rệt khi tín hiệu vượt ngưỡng.

Stereo Link
Nút chuyển "Stereo Link" Trên compressor cho phép hai kênh của thiêt bị có thể gắn kết với nhau để xử lý tín hiệu stereo. Ta hãy tưởng tượng là không có chức năng này thì sao? Nếu tín hiệu bên trái to hơn chẳng hạn, tín hiệu đó sẽ bị nén nhiều hơn và ảnh hưởng đến tín hiệu stereo trong khi tín hiệu bên phải lại không được xử lý... Tóm lại chức năng Link ép hai kênh làm việc cùng nhau dựa trên tỉ lệ trung bình của hai kênh tín hiệu. Mỗi nhà sản xuất có một cách thức khác nhau, có thể cách chỉnh và hiệu quả âm thanh sẽ khác nhau.

Tóm lại các nút chỉnh của Compressor là:
INPUT: Âm lượng của tín hiệu đầu vào.
THRESHOLD: Ngưỡng để đặt độ cao của tín hiệu sao cho tín hiệu đến đó sẽ bị nén.
RATIO: Là tín hiệu vượt ngưỡng bị nén nhiều như thế nào trên tỷ lệ bằng dB.
ATTACK: Là thời gian tín hiệu bị nén nhanh hay chậm, khi tín hiệu đến ngưỡng.
DECAY: Là thời gian compressor có hiệu lực khi tín hiệu đầu vào  rớt xuống dưới ngưỡng.
LINK: Để kết nối cân bằng với nhau hai bên tín hiệu stereo.
OUTPUT: Đặt mức độ tín hiệu đầu ra.

Bảng thiết lập Compressor cho các nguồn tín hiệu hay dùng
NGUỒN RELEASEATTACK RATIO HARD/SOFT KNEE GAIN RED 
 Vocal Fast 0.5s/Auto 2:1-8:1 Soft  3 - 8dB
 Rock vocal  Fast 0.3s 4:1 - 10:1 Hard 5 - 15dB
 Acc guitar 5 - 10ms  0.5s/Auto 5 - 10:1 Soft/Hard 5 - 12dB
 Elec guitar 2 - 5ms 0.5s/Auto 8:1 Hard 5 - 15dB 
 Kick và Snare 1 - 5ms 0.2s/Auto 5 - 10:1 Hard 5 - 15 dB
 Bass 2 - 10ms 0.5s/Auto 4 - 12:1Hard  5 - 15dB
 Brass 1 -5ms 0.3s/Auto 6 - 15:1 Hard 8 - 15dB
 Mix tổng thể Fast 0.4s/Auto 2 - 6:1 Soft 2 - 10dB (kích hoạt Stereo
Link)
 Bình thường Fast 0.5s/Auto 5:1 Soft

Kiến thức mix nhạc - EQ

Một trong những sai lầm lớn nhất khi dùng EQ để làm tăng (Boost) hoặc cắt bỏ (Cut) những tần số trên và thấp nhất của nhạc cụ. Những tầm này vượt xa hơn tần số cơ bản của nhạc cụ. Sau đây là cách dùng Equalizer (EQ) hiệu quả cho các nhạc cụ và giọng hát
Dùng cho Vocal:
Việc Boost tầng số (frequency) thấp hầu hết không thích hợp cho giọng nữ, nhưng sẽ rất hiệu quả cho giọng nam với một giới hạn nào đó. Tăng tần số thấp từ 500Hz đến 800Hz sẽ thêm phần thân (body) và âm hơn cho giọng hát. Hầu hết những giọng hát rõ ràng riêng biệt tầm từ 3.5 đến 6kHz. Ở tầm này sẽ làm tăng tiếng hơi thở cũng như tăng tòan bộ giọng hát và giọng đọc. Cách tăng này cũng có nhiều bất lợi. Tăng quá nhiều ở tầm này sẽ tăng những tiếng "sụyt" của việc phát âm chữ S. Nếu gặp tình huống này, bạn cắt bỏ từ 3.5kHz xuống 6kHz để sửa. Cẩn thận đây là tầm nổi bật của giọng đọc và Cut quá nhiều sẽ làm giọng ca bị đục. Mặc dù để nổi bật giọng hát có thể thêm từ 1kHz đến 3kHz, nhưng nói chung tầm từ 3kHz đến 6kHz phù hợp cho cho tất cả các giọng.
Kick Drum (trống Bass)
Rất khó ảnh hưởng để Boost tầng số Kick Drum dưới 60Hz. Có một số ứng dụng trong nhạc Dance hiện đại với bộ trống điện tử đạt được dưới 50Hz. Những tầng số thấp từ 20Hz đến 40Hz có thể nghe được từ ôtô đóng kín cửa hay những kiến trúc kín khác. Những sóng thấp này có thể nghe được từ khỏang cách xa. Đối với lọai Kick Drum phổ biến, âm đập (thump) thường có tầm từ 60Hz đến 100kHz, và nâng tiếng Slap từ 1.5KHz đến 3kHz của bass guitar sẽ làm 2 âm thanh này quyện vào nhau. Nâng tần số Kick Drum từ 100Hz đến quá 2kHz sẽ làm tiếng trống Kick và guitar Bass sẽ bị "tức" và "đục". Hãy để Kick Drum từ 1.5kHz đến 3kHz, và tiếng dây guitar Bass thật rõ, sẽ làm cho âm sắc Bass nền hay hơn.
Snare Drum
Những bản audio hồi xưa, thường để tầng số thấp nhất của snare dum từ 1 - 2 kHz, thường thấy trong lọai Modern Rock hoặc Country. Đến thể lọai Disco 70s hay nhạc Cowboy đường phố vào những năm 80, Snare được dùng như cái bóng mờ như Kick Drum, thường từ 150Hz đến 200Hz. Đến ngày nay, nhiều lọai nhạc còn Mix cả snare và kick có tầng số gần nhau đến không nhận ra được. Thường gọi là hiệp ứng "Double Time". không có quy luật chung nào cho EQ trống Snare. Khi bạn dùng Micro thu trống Snare, hãy cẩn thận đừng để âm thanh trống vang lên quá cao như những trống điện tử, những tầng số thấp khi được Boost sẽ làm tiếng Snare bị "mập". Nói chung, nếu bạn muốn tiếng Snare cứng cáp hơn, bạn chỉnh EQ khỏang từ 5kHz đến 5kHz.
trống Toms
Tùy thuộc vào âm vang của Toms, tầm lý tưởng từ 150hz đến 2kHz. Những tầng số thấp thích hợp cho các âm thanh percussive sâu, nhưng thông thường Cut tầng số khỏang từ 1kHz đến 3kHz.
Cymbals Fortunately, cymbals remain fairly constant and predictable over many types of music. Their dominant energy lies in the 2 kHz to 5 kHz region. Cymbal harmonics extend up to and past the range of human hearing. Boosting of cymbals in the 10 kHz to 12 kHz region results in a very brittle sound. Usually, boosts in the dominant area of 2 kHz to 3 kHz makes the overall mix less "wet" or "noisy" than boosting in the upper region.
Electric Bass
As with the discussion of drums, boosting lower frequencies to try to create more depth than what is available is a common mistake. Most bass guitar energy lies around 100 Hz with definition in the 1 kHz to 2 kHz region. Boosting of very low frequencies will result in a "muddy" clash with the kick drum. Letting the kick drum make the fundamental, and the bass guitar rounding out the low midrange just above the kick drum results in a more clear discernible mix. The kick drum can have high definition attack for the initial hit while the bass guitar string harmonics can provide the sustaining definition for the sound.
Electric Lead or Steel Guitar
The most important rule for equalizing guitars is to realize that harmonic series content not available at the source cannot be generated or synthesized at the mixer. Most guitar and steel guitar energy lie between 80 Hz and 5 kHz. Boosting the 3 to 5 kHz range will add clarity to clean guitars but will sometimes add harsh harmonics to a distorted guitar.
Acoustic Guitar
The same frequency range applies to the acoustic guitar as the lead electric guitar. One common mistake is to listen to the acoustic guitar too much by itself rather that with the entire band. One common mistake with the solo acoustic guitar is to add too much bass. A solo acoustic guitar seems to need more low frequency boost to round out the sound than it does when played with a set of other instruments. If the low frequencies are excessively boosted, this results in a very muddy relationship with the overall mix. Remember that the acoustic rhythm guitar is as much a percussive timing component as a melodic component. Its high frequency spectrum is most essential to the "sizzle" of the program material.
Overall Equalization
Excessive boosts of cuts in the main system EQ will drastically effect the decisions made at the individual channel EQ. One method of enhancing vocal clarity is to make sure that all other instrument individual mixer channel equalizations do not occupy the 3.5 kHz to 4 kHz band so much. The perception of presence of vocals and instruments can also be simulated by restricting other instruments to have dominant energy in that band. One common mistake for a sound engineer to make by listening to each instrument individually is to make each instrument sound very clear and present. It is easy to boost all instruments in this 3 kHz to 4 kHz range. The separation of sounds is more often achieved by spacing their dominant energy in bands not significantly occupied by others.
The most obvious mistake is excessive amounts of equalization. Experimentation with an equalizer in a home stereo system is a valuable tool to recognition of the various frequency bands. In summary, live or recorded mixing is very objectionable, and remember not everyone will have the same opinion.
Thats all in a nutshell. Have fun and I hope you've found this guide useful. If you've learned something or you have further clarifications, feel free to drop us an email. We'll love to hear from you!

Kiến thức mix nhạc - Mix và Mastering


Biên Soạn: NS Đắc Tâm

Cách Thức Mix

Cách thức mix âm thanh được gợi ý dưới đây không phải là nguyên tắc và có thể đúng với người này nhưng sẽ không đúng với người kia. Chính vì vậy mà mix là một nghệ thuật tùy thuộc vào đôi tai và kiến thức âm nhạc của người mix. Và không bài hát nào được mix giống bài hát nào.

1. Mix âm thanh từ trầm đến cao:
Vì tiếng trống và tiếng bass là âm thanh nền của bài hát nên không có âm thanh nào được phép át hoặc che lắp 2 âm thanh này.
– Tắt tất cả các tracks, sau đó nâng âm lượng trống kick, chỉnh compressor, EQ, delay sao cho tiếng kick này phù hợp với loại nhạc: pop, rock, jazz, blues, hiphop, techno...
– Nâng âm lượng tiếng bass, chỉnh compressor, EQ, delay sao cho tiếng bass nghe nặng và đầy, to hơn nhưng không che lắp tiếng trống kick.
– Sau đó tuần tự chỉnh tiếng snare, tiếng hihat, tiếng toms, tiếng cymbals và bộ gõ.
– Chỉ sau khi hoàn chỉnh phần hòa quyện giữa bộ trống và tiếng bass, bạn tiếp tục mix dần các nhạc cụ khác cũng theo nguyên tắc từ trầm đến cao căn cứ trên nền âm lượng của trống và bass. Mỗi nhạc cụ đều phải có chỗ của nó trong bài nhạc, không bị nhạc cụ khác che lắp với trống và bass làm nền.

2. Phân bố vị trí các nhạc cụ để tạo hiệu quả không gian stereo (sử dụng DELAY) và hiệu quả chiều sâu (sử dụng VOLUME + REVERB). Việc bố trí các nhạc cụ phải, trái, trước sau tùy thuộc vào sở thích cá nhân. Tuy không có công thức mẫu nhưng bạn cũng nên tham khảo cách thức bố trí nhạc cụ theo thể loại nhạc từ các đĩa audio CD của các ban nhạc và ca sĩ Mỹ nổi tiếng.

3. Giọng hát chính sẽ được mix sau cùng. Giọng hát phải “lọt” vào chung với không gian của nhạc cụ và không nên quá to. Có thể theo tỷ lệ 50/50 hoặc 60 giọng hát/40 nhạc. Giọng hát quá to sẽ lộ ra phía trước và tách biệt ra khỏi dàn nhạc. Bạn hãy nghe audio CD của các ca sĩ Mỹ để có nhận xét về quan điểm mix này.
Còn audio CD của Việt Nam ta? Giọng hát to, lộ ra phía trước và che lắp nhạc đệm. Lý do? Xin dành cho bạn nhận xét và đánh giá.

4. Hiện nay, có khuynh hướng sử dụng kỹ thuật “Normalize” đến mức lạm dụng (ngay cả các chuyên gia mix của Mỹ cũng áp dụng kỹ thuật này) nhằm tăng âm lượng bài nhạc tối đa để thích hợp cho tất cả các loại máy hát, từ máy dàn “xịn” cho đến máy CD “xí muội”.
Bạn có thể chọn lựa cách mix: hoặc mix cho dàn máy tốt (âm lượng vừa phải với chất lượng âm thanh tinh tế), hoặc mix cho máy hát CD rẻ tiền (giọng hát và nhạc cụ đều to tối đa).
Hãy nhìn dạng sóng audio của bài “You Light Up My Life” (đĩa audiophile cho dàn máy “xịn”) – sóng nằm trong khoảng giữa – 6.0 dB:
và của bài “Lady of Dream” – Kitaro (đĩa audio thị trường) – sóng vượt đến mức 0 dB (bị đứt đầu):
5. Trong quá trình mix, bạn hãy chọn một bài hát cùng thể loại đã được sản xuất tại Mỹ (tốt nhất là một bài thuộc hàng top ten) để so sánh với bản mix của bạn, để suy nghiệm và hoàn thiện kỹ thuật mix của bạn.

6. Điều rất lạ là sau khi tưởng như đã hoàn chỉnh bản mix, vài ngày sau đó hoặc cả tuần sau đó, khi nghe lại bản mix này, bạn sẽ cảm thấy không hài lòng và bị thôi thúc phải mix lại ! Nếu bạn luôn có cảm nhận này và luôn phải ngồi mix trở lại bản đã được mix thì chắc chắn bạn sẽ trở thành một chuyên gia mix âm thanh giỏi.

Mastering

Một bài nhạc sau khi được mix hoàn chỉnh cũng cần phải được “master” lại. Master có nghĩa là Chủ, là Thầy nhưng trong nghệ thuật thì có nghĩa là “Chánh”, “Gốc”. Bản audio Master sẽ được dùng để in ra các bản thương mại.
Kỹ thuật mastering thường dùng EQ và Compressor để cân chỉnh sao cho các tần số âm thanh hòa quyện với nhau để cho âm thanh tổng thể của bản mix có chất lượng và nghe đầy đặn hơn.
Và mastering còn được thực hiện để điều chỉnh âm lượng và chất lượng các bài hát trong một chương trình audio CD cho cân nhau.
Thu âm, mix và master vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật, mà nghệ thuật thì không có công thức mẫu và không thể chỉ dạy được. Vậy thì bạn hãy quên đi những gì đã đọc trong loạt bài “Xử Lý Âm Thanh Trên Vi Tính” và hãy phát huy tài năng và cái riêng của bạn trong việc đi tìm cái “đẹp” trong âm thanh.

Kiến thức mix nhạc - Hướng dẫn cơ bản Xử lý giọng hát trên máy tính


 

Sử lý Vocal sau khi thu là một bước rất quan trọng trong phòng thu mà nhiều bác có lẽ sẽ rất quan tâm! Bước này rất phức tạp và đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, viết về nó chắc sẽ phải rất nhiều, và mỗi người tùy trình độ và công cụ sử lý sẽ đạt được những kết quả khác nhau. Nhưng để đơn giản có thể chia qua trình sử lý giọng hát Vocal làm 4 bước sau:
1- Sử lý tạp âm và các lỗi nhỏ sau khi thu
2- Sử lý Equalyzer bằng các phần mềm EQ
3- Sử lý dynamic bằng các compressor hoặc nói một cách dễ hiểu là chỉnh vocal cho đều
4- Sử lý Effect ở đây gồm cả bước hiệu chỉnh các nốt phô

Bây giờ tôi sẽ nói qua một chút từng bước một, để nói kỹ chắc ko thể đủ trong một bài viết được. Việc đầu tiên cần load track vocal và các phần mềm thu âm như Sonar, Cubase, FL, Sonny Forge v.v..... sau đó bắt đầu tiến hành các bước sử lý

1-Sử lý tạp âm và các lỗi nhỏ sau khi thu
a-Sử lý tạp âm
Các bác nên nhớ rằng, điều quan trọng nhất là sản phẩm gốc sau khi thu phải rất tốt, các sử lý chỉ là phần phụ và hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng thu mộc, vì vậy nên tập trung kỹ vào phần cứng khi thu và điều kiện phòng thu. Tuy nhiêu sau khi thu xong dù sao vẫn tồn tại những tạp âm nhỏ mà ta cần sử lý.
Để loại bỏ tạp âm chúng ta có thể sử dụng một số plug-in như Waves X-Noise trong trong gói sản phẩm Waves Mercury Complete của hãng WAVES hoặc Noise Redusion của Sony Forge mà tôi đã post trong topic Phần mềm thu âm. Ví dụ như dùng X-Noise như hình dưới.

http://i365.photobucket.com/albums/oo94/dungnhac/shumopodavitel-waves-x-noise.png
Cách dung cho các sản phẩm loại này thường gồm 2 bước:
1-Scan tạp âm cần loại bỏ. Hãy chọn một đoạn trống trong phần thu có chứa tín hiệu tạp âm và nhấn nút Learn như hình dưới, nút này sẽ nháy màu đỏ, bạn hánh nhấn nút Play của phàn mềm thu âm để phát đúng đoạn có chứa tạp âm, chạy đến cuối phần chứa tạp âm lại nhấn lại nút Learn để ngững quá trình scan tạp âm. Ta sang bước 2

2-Quét đen toàn bộ đoạn vocal, nhấn nút play để phát và chỉnh hai thanh gạt Reduction và Threshold một cách hợp lý nhất để đạt được hiệu quả mong muốn.Đầu tiên đẩy dần thanh Threshold để loại tạp âm, nếu đẩu lên cao tạp âm vẫn ko hết mới chỉnh sang than Reduction. Chú ý đừng để thanh gạt Reduction ở vị trí cao quá vì có thể sẽ bị cắt mất một số tần số cao

b- Sử lý các lỗi nhỏ như tiếng suỵt, nuốt nước bọt
Các bạn có thể dùng các sản phẩm dạng De-Essers, ví dụ như Waves DeEsser cũng của gói sản phẩm trên
Để cho đơn giản đỡ tốn thời gian các bạn có thẻ dung ngay các preset có sẵn của nó. Ví dụ preset Male Ess loại bỏ tiếng sịt khi phát âm các từ S, X. preset Female Shh sẽ loại bỏ tiếng Shh phải ra sau câu hát v.v…. Các bạn có thể hiệu chỉnh mức độ loại bỏ bằng cần gạt Threshold như hình dưới

http://i365.photobucket.com/albums/oo94/dungnhac/waves-deesser.png


2-Sử lý Equalyzer bằng các phần mềm EQ

Bước này được dùng trong tất sử lý tất cả các track audio, nhưng để sử lý vocal đặc biệt quan trọng và có thể dung các plug-in EQ, như tôi vẫn hay dùng EQ của Sony trong Forge hoặc Waves Q10 Paragraphic EQ cũng của gói sản phẩm Waves Mercury Complete. Nói chung để đơn giản có thể tìm ở đó các preset có sẵn cho vocal rồi chỉnh một chút cho đến khi đạt hiệu quả mong muốn. Nhưng nói chung đối với vocal ta thường loại bỏ các tần số dưới 70Ghz vì nó nằm ngoài tầm âm của giọng nói, giảm một chút ở tần âm 1000Ghz cho giọng hát đỡ sắc, chú ý điều chỉnh tầm âm ở quãng 2000Ghz tùy thuộc vào giọng ca sỹ. Nói chung là vậy nhưng tùy thuộc vào giọng và kinh nghiệm của từng người sao cho đạt hiệu quả cao nhất và ở đây sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và chất lượng monitor của phòng thu. Ví dụ cách chỉnh EQ dưới dùng sản phản của Waves là một ví dụ nói chung tương đối tổng hợp cho các vocal.


http://i365.photobucket.com/albums/oo94/dungnhac/nastroyki-ekvalayzera.png

3-Sử lý dynamic bằng các compressor hoặc nói một cách dễ hiểu là chỉnh vocal cho đều
Điều rất quan trọng cho vocal trong bản Mix là sao cho nghe rõ, ko bị át bới các nhạc cụ khác và đồng thời lại hòa trộn tốt với nền nhạc. Để làm điều này một trong những bước quan trọng là làm tốt sử lý dynamic bằng các phần mềm Compressor, ví dụ như dùng phần mềm C1 Compressor của bộ Waves Mercury Complete như hình dưới. Để cho vocal thường chỉnh các thông số sơ bộ như sau: Ngưỡng xử lýTreshold khoảng -20Db, thời gian tăng đến cực đại Attack từ 0-0,1 mrs, Thời gian tắt dần Release từ 80-100 mcs, Mức độ nén Ratio thường là 1:4 , Ví dụ minh họa nói chung như hình vẽ dưới


http://i365.photobucket.com/albums/oo94/dungnhac/nastroyki-kompressora.png

4-Sử lý Effect ở đây gồm cả bước hiệu chỉnh các nốt phô
Thường thì các effect dạng Reverb, delay ko thêm vào track vocal ghi mộc mà chỉ thêm vào trong quá trình hòa chung với mix, nghe cùng các nhạc cụ khác. Các effect này mỗi nói dùng một kiểu, nhưng tôi hay dùng Express Reverb của Sony Forge hoặc WaveArts MasterVerb của bộ Wave.Arts.Power.Suite tôi cũng đã post lên diễn đàn. Chỉnh nhiều hay ít là do tai nghe của các bác thôi!
Trước khi add thêm các effect cần thêm bước hiệu chỉnh các nốt phô. Để dùng riêng cho viẹc này có Antares Autotune mà bác organkinbac đã post lên ở đầu topic phần mềm, thằng này dùng hơi phức tạp và chỉ dùng với giọngu hát quá “phô”.
Thường tôi hay dùng Waves Ultrapitch cũng của gói Waves Mercury Complete như hình dưới.

http://i365.photobucket.com/albums/oo94/dungnhac/waves-ultrapitch.png

Cách dùng nói chung dài nên các bác tự mò. Để đơn giản nên sử dụng các preset có sẵn của nó rồi nghe xem hiệu quả. Ví dụ nếu bài hát giọng trưởng dùng preset Major cluster và nghe xem nó hiệu chỉnh ra sao v.v…Sau khi đã hoàn thiện tất cả các bước có ta cần thêm một số hiệu ứng maximize bằng Plug-in BBE Sonic Maximizer, ở đây cần chọn preset Volcal có sẵn cho đơn giản, nhớ chỉnh nút Output Level để tín hiệu ra cho phù hợp, để cho âm thanh sáng hơn có thẻ dùng thêm hiệu ứng Exiter của modul Multiband Harmonic Exiter trong VST Plug-in iZotope Ozone và cũng để cho đơn giản nên chọn Preset có sẵn Comercial Voice. Nói chung để viết kỹ rất dài và tôi cũng đã hết giờ làm . Các ví dụ cũng như phần mềm tôi đưa ra chỉ là tương đối, có rất nhiều phần mềm tính năng tương tự của các hãng khác, và có những cách chỉnh khác. Có thời gian các bác sẽ tự nghiên cứu thêm trên nghuyên tắc chung này.
+5 EXP



Ở trên tôi đã nói qua các bước cơ bản để sử lý giọng hát, bước sau cùng là thêm các effect cho giọng mềm và vang hơn! Đã là nhạc công thì các bác chắc cũng đã đụng chạm đến các effect nhiều, có thể ko phải trong phòng thu nhưng khi làm voice trên đàn chắc chắn là phải dùng đến nó. Tôi cũng đã từng là nhạc công và những gì tôi biết về effect cũng là tự mày mò trên đàn và đọc trong quyển hướng dẫn của đàn. Riêng phần hướng dẫn các loại effect và các thông số trong phần setup của effect đó đã chiếm 300-400 trang passport của đàn. Qua những gì tôi đọc và hiểu được thì nói chung các loại effect chia thành những loại sau dựa trên nguyên tắc hoạt đông của nó:

1- Effect dựa trên hiệu ứng trể tiếng, nôm na là tín hiệu gốc sẽ được ghi lại, sử lý bằng các bộ lọc và phát trễ lại theo nhiều cách khác nhau và như vậy sẽ tạo nên các dạng effect khách nhau. Đại diện của dòng effect này là các loại Reverb, Delay, Multidelay v.v……..
2-Effect dựa trên nguyên tắc thay đổi modulation (cụ thể là thay đôi biên đọ, tần số và pha của một phần âm thanh gốc) Đại diện của loại này là các effect như: Chorus, Flanger, Phase, Wah-wah v.v….
3- Effect dựa trên nguyên tắc quá tải âm thanh, mà đại diện là Distorsion, Ovedriver v.v… rất thông dụng trong dòng nhạc Rock
4-Effect dựa trên hiệu ứng thay đổi cường độ sóng âm: Các effect dạng này được dùng trong quá trình sử lý dynamic mà đại diện là các loại compressor. Nguyên tác chung của các hiệu ứng dạng này là thay đổi cường độ âm thanh đầu vào nếu nó vượt quá ngưỡng giới hạn (Treshold) theo một tỷ lệ nén (Ratio) đã được định trước

Đó chỉ là những hướng chính và dựa trên những nguyên tắc đó sẽ tạo ra hàng trăm các loại effect khác nhau!!!!!Để nói kỹ về từng hiệu ứng tôi ko thể nói được vì diễn đàn ko phải là nơi học cơ bản, các bác cần tự đọc thểm, nhưng do có nhiều bác hay hỏi tôi về cách dùng tiếng vang cho giọng hát nên sẽ nói kỹ về nó trong bài viết này. Thường sau khi đã xử lý giọng hát xong như bài tôi đã viết trên, bước cuối cùng là cần thêm vào hiệu ứng vang, cụ thể là các dạng Reverb và tùy từng phong cách nhạc cũng như ý tưởng từng bài mà thêm các loại delay hoặc một vài loại khác nữa!

Tôi sẽ nói cụ thể về effect tạo tiếng vang reverb. Trước tiên để có thể làm việc tốt với phần chỉnh tính năng sau này ta cần hiểu rõ cách mà tiếng vang được tạo ta và nó phụ thuộc vào những yếu tố nào.
Tiếng vang (Eco) được tạo ra bởi sự phản lại nhiều lần của âm thanh. Ví dụ rất rõ rang là khi ta nói trong một căn phòng rộng hoặc trong hang núi giọng nói sẽ thấy vang hơn. Cái này là do giọng nói đập vào các mặt phẳng cản và phản xạ lại nhiều lần. Tiếng vang này sẽ phụ thuộc vào khoảng cách từ nguồn âm đến vât cản, sự thẩm âm của vật cản và hình dạng, số lượng vách cản v.v… Nếu khoảng cách từ nguồn âm đến vật cản rất xa ta sẽ thấy hiệu ững nhại (Delay) do âm thanh phản lại đến quá châm.
Ngày xưa trước khi có các phương tiện điện tử hiện đại để tạo ra tiếng vang cho giọng hát người ta phải xây dựng những căn phòng có hình dạng phản âm tốt, còn trong phòng thu để tạo hiệu ứng này họ treo những lá kim loại theo cách tính toán đặc biệt xung quanh micro để âm thanh phản xạ lại và do đó tạo hiệu ứng vang.
Để tái tạo lại hiệu ứng này trên máy tính, rất nhiều plug-in đã được viết, nhưng nguyên tắc chung sẽ là trích một phần âm thanh gốc phát chậm lại vài phần nghìn giây, đẻ tạo lại cái được gọi là âm thanh phản đầu tiên , và từ cái âmthanh phản đầu tiên này sẽ được tái tạo lại và lặp lại nhiều lần sau khi đã qua các block hiệu chỉnh tần số. Kết quả thu được sẽ lại được hòa chung với âm thanh gốc và như vậy sẽ tạo ra hiệu ứng vang
Các plug-in cho effect reverb nhiều vô số kể, nhưng cá nhân tôi hay dùng Waves TrueVerb của hãng WAVE mà tôi đã post trong phần Phần mềm thu âm. Thằng này cách dung phức tạp vì có rất nhiều các thông số cần chỉnh, vì vậy tôi mới phải nói kỹ cách thức tạo eco ở phần trên các bác mới có thể hiểu được cách chỉnh và hiểu rõ mỗi thong số khi thay đổi sẽ mang đến hiệu quả ra sao. Nhưng bù lại dùng nó ta có thể tạo được các loại tiếng vang theo ý muốn và tiếng vang tạo được của thằng này rất sạch, ko bị biến dạng và trong!
Đây là giao diện của Waves TrueVerb như hình dưới


http://i365.photobucket.com/albums/oo94/dungnhac/WaveTrueVerb.jpg

Ta thấy giao diện này được chia làm hai của sổ, tôi muốn các bác chú ý đến nó, của sổ trên gọi là Time Response Graph, còn bên dưới là Frequency Response Graph. Các thông số của sổ bên trên sẽ liên quan trực tiếp đên tiếng vang và các đuôi sau đó, chỉnh sủa ở đây các bác sẽ thay đổi được cách thức và màu sắc của tiếng vang. Cửa sổ dưới liên quan đến tín hiệu vào được tách ra từ âm thanh chính trước khi đi qua bộ sử lý thành tiếng vang, chỉnh suar các thông số của sổ này các bác có thể thay đổi được màu sắc của tín hiệu vào và do đó sẽ làm cho quá trình xử lý sau đó tốt hơn! Tôi sẽ trình bày riêng từng phần một, chú ý là để thay đổi các giá trị cần nhấn chuột vào giá trị cần đổi,,giữ chuột và di chuyển trái phải hoặc lên xuống.

1-Bảng Frequency Response và các thông số trong đó:
-Giá trị RevShelf: Giá trị này thể hiện bằng đường đồ thị màu xanh da trời ở bảng Frequency Response. Thay đổi giá trị này sẽ thay đổi tần số của tính hiệu vào của đoạn cao hơn tần số chia (cái này là tần số ngưỡng mà được qui định ở nút Freq), vd trong hình trên tần số ngưỡng là 4095Hz, như vậy tăng giảm giá trị RevShelf sẽ làm tăng giảm dãy tần số từ 4095 Hz trở đi của tín hiệu vào.
-Giá trị ER Absorb: Giá trị này thể hiện bằng đường màu vàng. Thay đổi giá trị này sẽ thay đổi tần số của âm thanh phản đầu tiên của đoạn cao hơn tần số chia (cái này là tần số ngưỡng mà được qui định ở nút Freq), vd trong hình trên tần số ngưỡng là 4095Hz, như vậy tăng giảm giá trị ER Absorb sẽ làm tăng giảm dãy tần số từ 4095 Hz trở đi của âm thanh phản đầu tiên. Tiếng vang sẽ được tạo từ âm thanh phản đầu tiên, do đó thay đổi giá trị này cũng sẽ thay đổi được màu sắc tiếng vang.
-Giá trị Fred: cái này là tần số chia đã được nói ở trên
-Giá trị Reverb Damp: Giá trị này thay đổi tần số thanh trầm của tín hiệu sau khi đã được sử lý ( nôm na là EQ của tiếng vang). Để thay đổi giá trị này ta có thể di chuyển hai nút vuông màu xanh ở của sổ Frequency Response, nút bên trái là dãy âm trầm, nút bên phải là dãy âm cao.

Để dễ hiểu nhìn ví dụ ở hình trên. Ở dải âm trầm tín hiệu vang ở dải tầm âm từ 511Hz sẽ được tăng 1.37 lần, còn ở dải âm cao tín hiệu từ dải tần âm 7104Hz sẽ bị giảm đi 0,4 lần. Có thể nhìn qua đồ thị biến đổi EQ của tiếng vang ở vùng màu xanh bảng Frequency Response
-Giá trị InputGain: Để chỉnh mức độ nhiều ít của tín hiệu vào trước khi qua sử lý tiếng vang. Vì vậy cường độ tiếng vang sẽ phụ thuộc vào giá trị này

Cạnh bảng Frequency Response còn ba nút rất quan trọng:
-Nút Direct: Tăng giảm hoặc tắt hẳn âm thanh gốc (âm thanh mộc)
-Nút EarlyRefl: Tăng giảm hoặc tắt hẳn tín hiệu phản lại đầu tiên (tín hiệu sau đó sẽ được nhân lên để tạo ra tiếng vang (Reverb)
-Reverb: Tăng giảm hoặc tắt hẳn tiếng vang
Bác hunghunghung82 chú ý là sau khi đã setup được tiếng vang như ý, phối hợp chuẩn ba nút này sẽ hiệu chỉnh được tiếng vang nhiều hay ít

2- Bảng Time Response và các thông số trong đó:
-Giá trị Dimesion: Qui định số lượng mặt phẳng mà âm thanh sẽ phản xạ lại tạo nên tiếng vang
-Giá trị RomSize: Qui định kích trước không gian tạo nên tiếng vang, nó thể hiện bằng đường xanh da trời trong bảng Time Response và chỉ ra rõ thời gian âm thanh phản lại và khoảng cách từ nguồn âm đến vật cản. Ví dụ ở hình trên khoảng cách đển vật cản là 18m, thời gian âm thanh phản lại là 53ms.
- Giá trị Distance: Qui định khoảng cách từ nguồn âm đến người nghe, nó thể hiện bằng đường màu vàng trong bảng Time Response và chỉ ra rõ thời gian âm thanh từ nguồn âm đến người nghe và khoảng cách từ nguồn âm đến người nghe. Ví dụ ở hình trên khoảng cách đển người nghe là 10m, thời gian âm thanh đến tai người nghe là 30ms. Giá trị này rất quan trọng để làm cho tiếng vang có cảm giác xa gần, ví dụ như nếu chỉnh cho hát bè nó sẽ làm cho giọng hát nghe như từ xa.
-Nút Link: nếu bật lên sẽ thay đổi tự động các thông số của tiếng vang tùa thuộc vào sự thay đổi thông số Distance (tốt nhất nên để tự động vì đã được lập trình chuẩn trước rồi)
-Giá trị Balanc: thay đổi tỷ lệ giữa Giọng mộc và tiếng vang. Chỉnh nhiều hay ít cần chú ý đến nút này!
-Giá trị DecayTime: Qui định thời gian tiếng vang sẽ tắt hẳn. Để giá trị này càng nhiều tiếng vang sẽ càng ngân dài và càng ngắn nếu để ít
Giá trị PreDelay: Qui định thời gian chỉ có tiếng mộc, sau thời gian này mới có tiếng vang. Nếu muốn giọng hát nổi lên thì cho giá trị này nhiều hơn, nếu giọng hát khô quá thì cho giá trị này nhỏ đi.
Giá trị Density: Qui định số lượng phản đi đi phản lại của tiếng vang. Nếu giá trị này nhiều tiếng vang nghe sẽ dày hơn và có cảm giác nhiều hơn.

Tôi đã nói hết những thông số chính và ý nghĩa của chúng. Chú ý để chỉnh cho giọng hát cần chỉnh các thông số quan trong nhất là RomSize, Distance, Balanc, PreDelay, Density, Reverb Damp. Sau khi đã hiệu chỉnh tiếng vang chuẩn rồi, để cho ít hay nhiều dùng các thông số Balanc, Nút Direct EarlyRefl, Reverb. Những gì các bác đã làm ưng ý nhất có thể nhớ lại thành preset mới để dùng cho nhưng lần sau bằng cách nhấn nút save và nhớ lại!

Hướng dẫn cơ bản thu âm bằng Nuendo 3













Và để chuẩn bị cho một phòng thu Mini bạn phải sắm 1 cái mic tầm 50 - 70k. Nếu có thể thì 1 chiếc Card Sound sẽ giúp bạn dễ dàng thu âm và có chất lượng âm thanh tốt nhất có thể./.

Kiến thức mix nhạc - Vocal - Auto Tune

Auto tune, những điều cần biết...


1. Cơ bản về Auto Tunes

Auto tunes nhận biết cao độ (pitch) của 1 note nhờ vào dãy âm tầng của note đó. Dãy âm tầng này đuợc Auto Tunes xác định thông qua các thước đo (scale). Mỗi loại scale có những cách tính âm tầng khác nhau. Để cho đơn giản mình sẽ chỉ nói đến default scale của Auto Tunes là Chromatic. Scale này có 12 cấp độ, mỗi cấp độ cách nhau 100 đơn vị, được tính trên đơn vị cent. Nói cho dễ hiểu hơn 12 khoảng cách này là tượng trưng cho 12 nốt trong 1 octave của đàn piano (bao gồm cả trắng & đen). VD: nốt C3 (đô ỡ octate thử 3) là 100 cent thì C3# sẽ là 200 cent... đến C4 là 1200 cent.

Auto Tune chỉ có thể nhận biết các dãy âm tầng này khi tầng số nó lập đi lập lại đều đặn 1 cách cố định trong 1 thời gian nhất định. Vì vậy nó chỉ thích hợp để nhận dạng các âm thanh riêng lẻ và không thay đổi biên độ liên tục. Vì vậy bản không thể bất Auto Tune làm việc khi trong track nhạc của bạn có nhiều nhiều hơn 1 nhạc cụ.
2. Cách sử dụng Auto Tune

Có 2 kỹ thuật chỉnh tone trong Auto Tune là: Automatic (tử động) & Graphical (đồ thị)

Để có thể làm việc với Auto Tune, trước hết bạn phải hiểu rõ các control chính trên giao diện của nó.

2.1 Đối với phương pháp automatic

a. Input type
Là kiểu của loại âm thanh mà bạn sẽ chỉnh sửa. Mình sẽ không nói chi tiết từng loại là gì, vì cái chính là cách sử dụng chương trinh mà thôi. Các bạn cứ google là ra hết. Việc lựa chọn đúng kiểu sẽ giúp cho Auto Tune nhận biết chính xác và nhanh hơn.

b. Key
Xác định cao độ của nốt đầu tiên trong thước đo (lấy nốt A3 = 440 Hz làm chuẩn)

c. Scale
Là nơi các bạn lựa chọn các loại thước đo mình đã đề cập bên trên

c. Retune speed
Là nút để điều chỉnh thời gian Auto Tune thay đổi tone cho 1 dãy âm được tính trên milisecond. Số càng nhỏ thì thời gian sẽ diễn ra càng nhanh (phù hợp với các âm có trường độ ngấn) và ngược lại.

d. Tracking Cao độ của âm thanh được Auto Tune xác định nhờ vào 1 khoảng thởi gian lập lại của tầng số đó. Nút này cho Auto Tune biết có bao nhiêu thay đổi được cho phép trong khoảng thời gian đó để có Auto Tune có thể nhận ra note đó.

e. Bypass
Bất Auto Tune bỏ wa những nốt có cao độ gần bằng nốt được đánh dấu bypass.

f. Remove
Loại bỏ những nốt được đánh dấu là remove khỏi thước đo. Khi chỉnh sửa độ cao, Auto Tune sẽ không chỉnh lên cao độ của những nốt này.

Kiến thức mix nhạc - Vocal


Hai lần một tháng, chúng tôi xem lại một số bài viết của độc giả yêu thích của chúng tôi từ suốt lịch sử của Audiotuts +. Hướng dẫn này đã được xuất bản lần đầu vào tháng Chín năm 2008. Thuyết phục một vấn đề ghi âm giọng hát để chơi độc đáo với phần còn lại của hợp của bạn có thể có vẻ giống như một công việc vô ích.
Vâng, ghi lại giọng hát và giọng hát kém-ghi cả hai cần phải được chuẩn bị một cách chính xác, và các quá trình chúng ta đang trải qua ngày hôm nay sẽ giúp bạn biến không qua xử lý giọng hát của bạn đưa vào một âm thanh đánh bóng và thương mại.



2. Đối phó với các tần số thấp 


Một khi giọng hát của bạn đang phát trở lại mà không có tiếng ồn bất kỳ đó là thời gian để bắt đầu nghĩ về một dây chuyền chế biến mà sẽ khen giọng hát và mang lại tốt nhất trong việc thực hiện.
Thứ tự mà tôi có ở đây không có nghĩa là đặt trong đá và chỉ đơn giản là một cách để bạn có thể làm việc.
Một khi bạn có một sự hiểu biết của mỗi quy trình, bạn có thể gây rối với thứ tự của các bộ vi xử lý như bạn thấy phù hợp.

Điều quan trọng là để lọc ra tần số thấp và nó luôn luôn là một ý tưởng tốt để làm điều đó sớm trong chuỗi của bạn như thế này sẽ cho phép bất kỳ plug-in sau thời điểm này hoạt động ở công suất tối ưu vì chúng sẽ không phải quá trình số lượng lớn không mong muốn tần số thấp năng lượng.
Nhiều vấn đề do độ rung, tiếng ồn hơn nữa trong thời gian ghi âm và như vậy có thể được loại trừ với quá trình này đơn giản.
Tôi đã sử dụng một EQ plug-in với bộ lọc thông qua cao tham gia.
Xem dốc và tần số bạn sử dụng ở đây, vì chúng sẽ cần phải được điều chỉnh tùy thuộc vào loại giọng hát bạn đang làm việc.
Ví dụ, tôi đã có thể lọc khá nhiều thấp như tôi làm việc với một giọng hát nữ.


3. Kiểm soát Dynamics với nén 



Tất nhiên, nó có khả năng rằng trong bất kỳ hoạt động thanh nhạc ca sĩ này là lớn hơn tại một số điểm và yên tĩnh hơn trong những người khác.
Đây có thể là bởi vì phần này đòi hỏi rất nhiều biến động, hoặc chỉ rằng họ đã quá gần hoặc quá xa từ mic ở lần.
Dù nguyên nhân gây ra, nếu có của bạn có các vấn đề này bạn sẽ muốn giải quyết chúng và đây là nơi năng động chế biến đến in
Việc sử dụng máy nén để kiểm soát động lực nên có bí mật cho người mới bắt đầu, ngay cả trong lĩnh vực sản xuất.
Ngay cả những phần mềm sản xuất đơn giản nhất sẽ bao gồm một số hình thức nén plug-in hoặc hạn chế đó là khả năng tối đỉnh và đáy trong bất kỳ tín hiệu âm thanh.
Giọng hát đặc biệt là phản ứng tốt để nén và một khi các cuộc tấn công chính xác và cài đặt bản phát hành được áp dụng, đẹp, số lượng lớn, giảm được có thể được sử dụng mà không cần giới thiệu tác dụng phụ tiêu cực nào để âm thanh của bạn.

Một lần nữa, nếu bạn không chắc chắn làm thế nào để thiết lập một máy nén, bắt đầu với một bản vá khởi xướng và thử một số thiết lập tinh tế để bắt đầu.
Bạn có thể nghỉ mát để cài đặt trước để có được quả bóng lăn và điều chỉnh như bạn đi.
Một khi bạn có một máy nén làm việc một cách chính xác về giọng hát của bạn, bạn sẽ có thể thưởng thức một âm thanh thậm chí còn mạnh mẽ hơn và tổng thể.
Nếu bạn vẫn cảm thấy có một số động thái bất thường nhảy ra khỏi kênh thanh nhạc, một số ánh sáng hạn chế có thể được sử dụng để đặt một giới hạn về mọi thứ.


4. Đi ra Hiss với De-Essing 



Nếu "ssss" và "ch" âm thanh đang gây ra những đột biến về thu âm giọng hát của bạn, những cần phải được xử lý ra ngoài. Điều này được gọi là vật phẩm không mong muốn sibilance và là khá khó khăn để tránh trong quá trình ghi âm.
Bạn có thể giải quyết các trường hợp nhẹ sibilance với một truyền EQ cao hay thấp vượt qua bộ lọc.
Bạn thậm chí có thể thích làm giảm được vấn đề của khu vực thủ công trong một biên tập viên âm thanh, nhưng một lần nữa, các tuyến đường dễ dàng nhất là sử dụng một bộ xử lý được gọi là de-Esser, một quá trình tự động thiết kế đặc biệt cho công việc. De-essers là khá phổ biến plug-in với một bộ điều khiển đơn giản. Thông thường người ta sẽ thiết lập tần số của khu vực vấn đề và sau đó chuyển lên ngưỡng nhạy cảm hay thiết lập để đảm bảo quá trình này chỉ đá trong khi cần thiết. Nếu bạn có nghi ngờ gì hãy thử sử dụng các plug-in cài đặt trước như một điểm hướng dẫn và bắt đầu.
Bạn có thể nghe được làm việc de-Esser trên các phần của nó 'của giọng hát ở đây.

Hãy cẩn thận - qua sử dụng quá trình này có thể ảnh hưởng đến tín hiệu một cách không mong muốn và làm cho lời nói âm thanh không thực tế và không đọc được.


5. EQ và chất hỗ trợ 



Sau khi sử dụng nén và de-essing, có thể bạn có thể đã bị mất một số các tần số quan trọng cao hơn trong giọng hát của bạn. Mặc dù động lực chế biến có tiền thưởng rõ ràng, nó có thể để lại các tín hiệu âm hơi ngu si đần độn. Các tần số có thể được gọi trở lại với việc sử dụng giá đỡ cân bằng tinh tế hoặc sử dụng các bộ tăng cường một.
Trong trường hợp này tôi đã sử dụng của Logic của EQ để thêm một số loa trung trên, chỉ để vuốt lại một số các "không khí" bị mất trong chế biến trước đó.
Hãy cẩn thận ở đây là bạn có thể sẽ lại giới thiệu các sibilance bạn đã dành thời gian loại bỏ trong các bước trước đó. "Ít là nhiều" là cách chuyển tiếp ở đây.
Giữ những điều tinh tế.


6. Giữ tổ chức với Nhóm 


Mặc dù không có sử dụng cho nó trong ví dụ này, vì chỉ có một giọng hát đang được sử dụng, thiết lập các nhóm hoặc bus có thể cực kỳ hữu ích. Nó không có gì lạ khi có nhiều giọng hát tương tự như chơi trên nhiều bài hát trong bất kỳ dự án một.
Nếu đây là trường hợp, gửi tất cả thông qua một khe tổng thể và áp dụng các dây chuyền của các bộ xử lý thanh nhạc cho nó.
Không chỉ này sẽ cung cấp cho bạn một âm thanh gắn kết hơn thanh nhạc nhưng nó có thể tiết kiệm tài nguyên CPU như bạn chỉ áp dụng các plug-in một lần.
Tất nhiên giọng hát sao lưu và libs quảng cáo có thể cần phải được gửi qua khe của mình để tránh nhầm lẫn và mặt nạ.
Nó cũng có thể hữu ích để áp dụng khác nhau nhiều quá trình tế nhị với các giọng hát trung để tạo ra một số tương phản giữa chúng và một phần dẫn của bạn.


7 Reverb. Thêm và Delay 



Cuối cùng, để thêm không gian và chất lượng của một thanh tao, bạn có thể sử dụng một số hiệu ứng chậm trễ và hồi âm. Đây có thể được sử dụng như là chèn, nhưng trở nên đặc biệt hữu ích khi được sử dụng trong một gửi / trả lại cấu hình. Điều này bất cứ cách nào tự động hóa về ca khúc thanh nhạc của bạn sẽ không thực hiện việc chế biến và bất kỳ đuôi sẽ ở lại nguyên vẹn.
Ngoài ra sự chậm trễ và các hiệu ứng có thể được sử dụng trên bất kỳ kênh trong hỗn hợp của bạn. Cố gắng không để đầm lầy giọng hát với hiệu ứng phụ như nó sẽ mất đi sự hiện diện và rõ ràng.


8 điều chỉnh. Pitch và các sự cố bắn 


Có không phải là số tiền rất lớn còn lại để làm cho giọng hát này như là tất cả mọi thứ đã được làm việc độc đáo sau khi tất cả xử lý này đã được áp dụng, nhưng trong một số trường hợp thêm công việc có thể cần phải được thực hiện.
Ví dụ, nếu các ca sĩ đã được một ít run rẩy (hoặc âm điếc!) Bạn có thể cảm thấy sự cần thiết đối với một số chỉnh sửa âm thanh.
Quá trình này đã trở nên nổi tiếng bởi những Auto-Tune Antares plug-in, nhưng có rất nhiều lựa chọn khác.
Logic 8 có một plug chỉnh gói lớn pitch.

Một thay đổi cuối cùng bạn có thể muốn làm là sử dụng tự động hóa để giảm mức độ của bất kỳ vấn đề ngắn ngày còn lại. Nếu bạn không hài lòng với sibilance bất kỳ hoặc bật có quản lý để tìm cách của họ mặc dù các chuỗi của bộ vi xử lý, bạn chỉ có thể áp dụng một chấm nhỏ trên đường tự động hóa âm lượng.
Điều này thực sự sẽ giúp đỡ để làm mềm vùng và loại bỏ được vấn đề

Kiến thức mix nhạc - Compressor

Nói về comp thì hiện tại có 2 loại là mutiband comp và loại phổ biến nhất là fullband comp. Các thương hiệu sản xuất thì cũng rất nhiều , từ rẻ tiền đến đắt tiền. 

thường thì người ta kết hợp thêm các tính năng expander, gate , limiter để làm thành 1 bộ compander hoàn chỉnh. Mặc dù cũng có sản xuất các bộ gate riêng, nhưng chủ yếu dùng cho nhạc cụ. Như vậy trên 1 comp fullband thông dụng sẽ gồm 3 thành phần theo ngưỡng threshold từ thấp đến cao : expander/gate , compressor và limiter . Trong đó, quan trọng nhất , phức tạp hơn cả là compressor. 

Expander/gate đựoc dùng để ngăn tạp âm nền, cắt bỏ micro nhạc cụ khi chưa có tín hiệu....
Comp dùng để khống chế, điều hòa mức tín hiệu , nhất là các tín hiệu có mức thay đổi âm lượng lớn như vocal , hoặc dùng để làm thiết bị bảo vệ với tính năng tương tự limiter.
Limiter : ngưỡng cuối cùng để bảo vệ , khi xác định threshold của limiter thì tín hiệu âm thanh không vuot quá được ngưỡng này .

Các thông số cơ bản của 1 compressor gồm có :
- Threshold : ngưỡng xác định điểm hoạt động của comp.
- Ratio : tỉ lệ nén, từ 1:1 đến infinity:1 
- Attack time : thời gian nén
- Release time : thời gian hồi phục trạng thái sau nén (nhả nén).
- Gain : tăng giảm âm lượng tại ngõ ra, đa phần ta tăng gain này lên để bù phần âm thanh đã bị nén.
- Knee : kiểu nén , thường thường có 2 giá trị : hard-knee , và soft-knee, trên các comp digital có thể chọn được nhiều giá trị giữa hard và soft knee


Như trên bác Thaoprosound đã nói qua về các công cụ được dùng trong quá trình xử lý dinamic của âm thanh và các thông số chính. Nhưng đối với rất nhiều anh em những thông số đó chẳng có nghĩa lý gì thậm chí có dịch cả ra tiếng việt nghe cũng sẽ như vịt nghe sấm. Để có thể bàn luận được về các loại compressor và các phương thức setup thì những caí đầu tiên cần hiểu là:
- nguyên lý làm việc của compressor
- các thông số chính và nếu thay đổi những thông số này thì nó sẽ ảnh hưởng đến âm thanh ra sao v.v.... 
Về những cái này ko phải ai cũng biết thậm chí có cả các bác làm nghề thu âm. Ví dụ như mình đã dùng compressor để biểu diễn từ rất lâu nhưng cũng chỉ hiểu nó làm cho âm thanh đều và dày hơn. Còn tại sao như vậy và các thông số khi chỉnh có tác dụng ra sao (tất nhiên ý nghĩa cơ bản thì hiểu nhưng nó tác động ra sao thì ko hiểu) nên toàn tự mò dựa theo tai nghe là chính! Đến khi có việc cần phải **ng chạm nhiều đến vấn đề này mới tự đọc và nghiên cứu. Theo như những gì mình tiếp thu được mình xin phép mạo muộn trình bày vấn đề này theo cách hiểu của mình:
1-Cách làm việc của Compressor
Compresorr là một công cụ thông dụng nhất trong quá trình xử lý dinamic âm thanh và nó tác động trực tiếp đến việc thay đổi dinamic rage (khoảng tầm âm giữa đoạn nhỏ nhất và lớn nhất của sóng âm thanh và được đo bằng đơn vị De xi ben=Db). Về cách làm việc có thể ví nó như một amply mà hệ số tăng âm của nó phụ thuộc hoàn toàn vào âm lượng của nguồn âm được đưa vào input của nó. Thường trong đa số trường hợp nguồn âm vào input cũng chính là nguồn âm được trích ra một phần từ sóng âm cần xử lý và độ mạnh hay yếu của sóng âm sẽ điều khiển amply tăng nhiều hay ít một cách tự động
Khi đã hiểu nguyên tắc làm việc của compressor ta có thể định nghĩa như sau:
Compressor là một công cụ có tác dụng tự động tăng hoặc giảm cường độ âm thanh nếu cường độ đó đạt đến ngưỡng (Threshold) đặt trước và theo một hệ số tăng giảm(Ratio) do người dùng quyết định
Như vậy các bác đã hiểu nguyên tắc cũng như cách làm việc của Compressor. Nhưng nhiều bác chắc sẽ thắc mắc: nếu vậy thì nó có tác dụng gì? Như trên ta đã thấy, Compessor có tác dụng nén sóng âm lại một cách tự động sao cho các sóng âm đều nhau. Về mặt vật lý là vậy nhưng đối với tai nghe con người nguồn sóng âm được nén đều có thể ví nôm na một cách hình tượng như một nắm bông gòn được bóp nhẹ lại, nó sẽ chặt hơn và sẽ đặc lại hơn. Do đó âm thanh khi được nén cho đều nghe sẽ có cảm giác đặc hơn, dày hơn và ngân dài hơn. Nhưng nếu ta càng nén mạnh thì nắm bông sẽ biến dạng đặc lại và ko còn giống nắm bông gòn xốp như lúc đầu nữa. Âm thanh cũng vậy, với các thông số nén (ratio) , thông số ngưỡng nén (Threshold) v.v.v.v. càng lớn thì sự biến dạng của sóng âm càng lớn, thậm chí nghe như robot luôn. Do đó setup Compressor cho chính xác với từng trường hợp cụ thể là cả một vấn đề, nó có thể làm hay âm thanh lên rất nhiều và cũng có thể phá hỏng hoàn toàn!!!.

2-Các thông số của Compressor
a-Thông số đầu tiên là ngướng nén (Threshold)
Đây là thông số được đo bằng Db, và nếu cường độ âm thanh vào input của compressor lớn hơn ngưỡng này thì compressor bắt đầu nén theo tỷ lệ nén (ratio) cho trước
Như ví dụ dưới, các bác sẽ thấy đồ thị âm thanh bị nén lại ra sao nếu ta đặt ngưỡng nén (Threshold) là các giá trị -20db, -10db, 0db, 10db. 
Các bác sẽ thấy đường thằng đồ thị khi đến điểm Threshold là bắt đầu đổi hướng như đồ thị dưới 
Trong thực tế với mỗi nhạc cụ nàm trong dải tầm âm nhất định và phụ thuộc vào phong cách nhạc mà ta sẽ chọn các ngưỡng nén (Threshold) khác nhau. Ngưỡng nén càng thấp thì đoạn âm thanh bị nén càng nhiều và như vậy âm thanh sẽ đặc hơn nhưng biến dạng rất nhiều. Thường những sự biến dạng lớn nhưng âm thanh lại đặc hơn thường chỉ áp dụng cho Drums kick bass, Guitar bass v.v.v.v. và còn tùy vào trường phái nhạc và ý tưởng của người hòa âm
[/URL][Only registered and activated users can see links] ([Only registered and activated users can see links])

b-Thông số thứ hai là tỷ lệ nén (Ratio): Đây chính là tỷ lệ mà ta quyết định âm thanh bị nén bao nhiêu lần. Tỷ lệ càng lớn thì âm thanh bị nén càng nhiều. Như ví dụ dưới ta sẽ ta sẽ thấy nếu tỷ lệ nén (Ratio) là vô cùng thì âm thanh khi đến ngưỡng nén sẽ bị bẻ ngang và ko vượt to lên được. Như vậy đây chính là nguyên tắc làm việc của Limiter và nếu định nghĩa đúng thì Limiter chính là một Compresor có tỷ lệ nén (Ratio) là vô cùng. Nếu với tỷ lệ nén là 2:1 thì âm thanh khi vượt qua ngưỡng nén sẻ chỉ tăng được 1/2, như hình dưới ta đặt ngưỡng nén là 0db, nếu âm thanh vào input vuọt qua là 20db thì tín hiệu ra output sẽ chỉ là 20db:2=10db. Còn nếu tỷ lên nén là 1:1 thì âm thanh sẽ ko bị nén và đồ thị sẽ tăng là một đường thẳng như hình minh họa bên dưới
[Only registered and activated users can see links] ([Only registered and activated users can see links])
Thông số Ratio kết hợp với thông số Threshold sẽ quyết định nhiều đến việc âm thanh bị nén ít hay nhiều. Nôm là là âm thanh sẽ dày hay mỏng nhưng đồng thời cũng sẽ tỷ lệ thuận với sự biến dạng âm thanh gốc. Do đó ở đây ta cần tìm được một điểm vàng cho mỗi trường hợp riêng để âm thanh dày đáp ứng đúng yêu cầu nhưng ko biến dạng

c-Thông số Attack time và thông số Release time:
Thông số Attack time có thể hiểu nôm na là thời gian compresor bắt đầu nén khi âm thanh đạt đến ngưỡng nén (Threshold) và được đo bằng ms. Ví dụ nếu Attack time=10ms thì khi âm thanh đạt đến ngưỡng nén sau 10ms compresor mới bắt đầu nén
Thông số Release time có thể hiểu như thời gian compresor thôi nén sau khi âm thanh hạ xuống dưới ngưỡng nén và cũng được đo bằng ms. Ví dụ nến Release time=10ms thì sau khi âm thanh tụt xuống dưới ngưỡng nén thì sau 10ms compresor mới ngừng nén. 
Hai thông số này sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi nhanh hay chậm của âm thanh nén và đó sẽ dẫn đến âm thanh sau khi nén bị sắc hơn hay nhòe hơn. Ở rất nhiều Compresor hai giá trị này thường để tự động và ta chỉ cẩn chọn kiểu nén thôi

d-Thông số kiểu nén Knee. Thông số này quyết định sự nối tiếp giữa đoạn ko nén với đoạn bị nén. Sẽ có hai giá trị hard-knee tức là âm thanh sẽ bị thay đổi tức thời và soft-knee nghĩa là âm thanh sẽ thay đổi dần như đồ thị bên dưới. Với thông số hard-knee âm thanh khi bị nén nghe sẽ cứng hơn phù hợp với các nhạc cụ cần độ gắt và thể loại nhạc mạnh còn soft-knee đuơng nhiên sẽ ngược lại
[URL="[Only registered and activated users can see links]"][Only registered and activated users can see links] ([Only registered and activated users can see links])

Ngoài ra còn giá trị Gain để ta có thể tăng giảm được âm được đưa ra đường output của compresor. Giá trị này thường ùng để chỉnh âm thanh ra cho cân vì sau khi nén cường độ âm thanh sẽ bị hụt đi chút ít

Kết luận lại vai trò của compresor là nén âm thanh cho đều một cách tự động và như vậy làm cho âm thanh nghe dầy mọng và ngân dài hơn đồng thời tỷ lệ nén cũng tác động trực tiếp đến sự biến dạng của âm thanh. Do đó ta có thể ứng dụng compresor ở bất cứ chỗ nào cần làm cho âm thanh dày hơn và ngân hơn nhưng cần hiệu chỉnh cho thật phù hợp vơi yêu cầu

Sau khi hiểu hết được các thông số trên các bác đã có thể bắt đầu thí nghiệm với các thông số của Compersor được rồi. 
Các bác nên nhớ các thông số chính là vậy nhưng với mỗi một Compressor khác nhau các thông số có thể bớt đi hoặc phối hợp hai ba thông số lại. Ví dụ các thông số như Attack time , Release time hoặc Knee có thể ko có ở nhiều compresor vì đã được tự động hóa. Compresor lại có thể là loại 1 đường, 2 đường và nhiều hơn, hoặc có thể là multiband và làm việc chỉ trong từng giải tần số nhất định thường dùng như EQ và hiệu chỉnh trong từng dải tần âm thanh.
Ngoài ra có một số compresor có đường inset input cho phép điều khiển conpressor từ nguồn âm thanh khác. Cái này có ứng dụng rất hay. Ví dụ trong nhạc rock, nếu ta trích một phàn âm thanh của vocal vô đường inset này , còn comperson nối với đường guitar Distorsion. Kết quả khi ca sĩ hát thì tiếng guitar rock sẽ tự động bị nén nhỏ đi và ko át giọng ca sỹ. Cách ứng dụng này còn áp dụng được rất nhiều trường hợp khác như khi chơi live để Bass và Drum hoàn toàn ăn khớp với nhau v.v.v.v.v..v.


- Khi setup compressor thì việc căn chỉnh cho hài hoà các thông số là vô cùng quan trọng. Nó ảnh hưởng đến đặc tính âm thanh tại ngõ output của comp (hay - dở là do sự căn chỉnh này). Kỹ năng này tuỳ thuộc vào kinh nghiệm, tay nghề của người làm âm thanh.
- Một thông số khá quan trọng, không thể bỏ qua, đó là chỉ thị Gain Reduction (mức suy giảm của tín hiệu bị nén). Ở trên hardware hay software đều có chỉ thị này. Nó cho ta biết mức nén tín hiệu là bao nhiều. Tuỳ thuộc vào nguồn âm ta đặt comp khác nhau thì sẽ có các kết quả khác nhau : comp cho bộ trống jazz (kick, tom, cymbal, hi-hat, snare...), comp cho nhạc cụ ( các loại guitar, kèn, sáo, keyboard, piano...), nhất là comp cho vocal (một nguồn âm có mức âm lượng thay đổi rất lớn)... Hãy đặc biệt chú ý đến thông số này khi thay đổi giá trị của threshold, ratio, attack time, knee. 

- Trong môi trường studio hay live music thì việc căn chỉnh cho compressor cũng có sự khác nhau (với cùng một nguồn âm). Bởi vì trong live music, setup comp sai ở các kênh có dùng micro thu tín hiệu sẽ là 1 nguyên nhân làm tăng khả năng bị feedback.

- Nút Auto, trong rất nhiều compressor, cả soft hay hardware có tính năng này, làm nhiệm vụ tự động chọn thông số attack/release time tùy thuộc vào mức thay đổi cường độ tín hiệu của nguồn âm. Tuy nhiên, xin lưu ý chế độ Auto không phải là giá trị tốt nhất trong đa số các trường hợp. Khi bạn đã nắm được kỹ thuật, đã làm chủ được thiết bị, thì hãy dùng chế độ Manual để tạo ra chất âm ưng ý nhất, hoàn hảo nhất. Còn ngựơc lại, nếu bạn chưa rành thì đừng chỉnh loan lên, hãy chọn Auto cho nó "lành" :D

- Ngõ Side-chain của compressor rất hữu dụng. Ngoài tính năng như bác HamVui đã kể trên (gọi là kỹ thuật Ducking) , còn cho phép ta insert 1 Equalizer (có thể là Parametric hoặc Graphic EQ) để thực hiện kỹ thuật de-essing & de-pumping (loại bỏ các âm "s", "x", "th" "ph", "b"... có thể làm xấu đi âm thanh của vocal). Nếu dùng phần mềm thì cũng có các plugin khá mạnh để ta xài.

Nói về compressor thì nhiều thông tin lắm, trên khuôn khổ 1 bài viết thì không thể chia sẻ hết được. Mời các bác cùng tham gia thảo luận cho xôm tụ




Tui là dân hai lúa dưới ruộng chơi âm thanh nên tui thấy Compressor để là như ri : 
- Khi nói về nén âm thanh thì nói cho dễ hiểu là ta cân chỉnh âm thanh làm sao cho lợn khi nó hét hết cỡ hay là ủn ỉn thì thầm thì lượng âm thanh vẫn bằng nhau . ( Khi nghe nhạc CD ta thấy hình như lượng âm thanh lúc nào cũng bằng nhau , CD thì phần nhiều họ nén bằng software )
- Khi nào ta cần Compressor ? Tất nhiên là nhạc sống có ca sĩ hay là có nhạc cụ sống thì ta cần Compressor .
- Compressor cũng có tác dụng giúp giãm bớt phần hú ( feedback ) vì phần gain của OUTPUT level đã bị ta kéo xuống .
- Compressor không phãi là vị cứu tinh cho giàn âm thanh vì khi nén không đúng cách nó sẽ cho tác dụng ngược . Thiếu tiếng thì thầm hay thiếu tiếng hét to .
- Không có cách nào xác định ta nên chỉnh compressor ở đâu và chỉ số như thế nào vì nó hoàn toàn phụ thuộc vào những dụng cụ âm thanh mà bạn đang có .
- Nếu có mixer xịn , loa xịn rất có thể bạn không bao giờ cần tới Compressor ( vì chúng đã có chức năng này trong phần thiết kế rồi nhưng họ không bao giờ nói cho bạn biết ). 

Đàn Tyros có chức năng Compressor trong phần Mixer . Tui không biết PSR-3000 , S900 hay S910 có chức năng này không thì tui không rõ . Anh em có thể vào nghịch phần compressor vô tư mà chẳng sợ hư cái chi .


Trở lại với chủ đề về compressor . Thật ra mình không có một thông số nào nhất định để chỉnh compressor . Compressor cho tiếng hát khác với tiếng ghi-ta . Compressor tiếng ghi-ta khác với tiếng trống ... . Cộng thêm giàn máy khác nhau , không gian khác nhau thì compressor thật ra có thiên hình vạn trạng . Nói như thế thì ai cũng nói được, kiểu như huề cả làng . Thôi thì mình mang thông số thông dụng mà mình hay xài ra coi thử có giúp đỡ chi cho anh em mới vào nghề không nhỉ ?

Lưu ý: Một mixer hoàn hảo là một mixer không cần compressor . 
Cái này tui hông biết có đúng hay không nhưng những tay nhà nghề đều nói vậy . Bất cứ chỉnh sửa nào vào âm thanh đều làm mất đi cái hay nguyên thủy .

Compression cho tiếng hát :

Attack time: 5 ms
Release time: 50ms
Threshold: -10dB
Compression ratio: 5:1

Các bạn để ý thấy tui chọn Attack time- 5 ms thời lượng rất nhanh vì thông thường lợn nó hét lên không biết lúc nào mà lường . Khi nó hạ giọng thì mình cho nó hạ chậm khoảng 50ms là tốt vì nó cứ tưởng là nó hét khá hơn nó hét thiệt . Tui cho Threshold -10dB vì nếu giãm hơn nửa thì có lẻ tiếng của lợn có thể bị nghẹt . Khi chỉnh cho tiếng hét của lợn thì bạn đừng cho threshold giãm nhiều quá vì mình muốn giọng của lợn phải giống giọng thật . Ratio thì tui cho 5:1 tức là khi nó chạm tới cái gối (knee ) và bắt đầu giãm -10dB thì âm lượng cũng giãm đi 5/1 . Có nghĩa là độ lớn âm thanh vào 5 phần thì chỉ nén xuống còn 1 phần mà thôi .

Compression cho tiếng ghi-ta:

Threshold: -20dB
Ratio: 5.0 is to 1
Attack time: 15ms
Release time: 15ms
Bạn thấy tui để Threshold: -20dB cho ghi-ta vì tui hông muốn nó lấn lướt cái giọng hát . Ratio giống nhau , Attach và release tui để khoảng giữa 15ms là tốt .

Compression cho tiếng Bass:

Threshold= -20dB
Ratio: 6 is to 1
Attack time: 40ms
Release time: 80ms

Vì tiếng bass là loại tiếng để giữ nhịp cho tiếng hát cho nên tui để chế độ attach và release lâu hơn . Ratio thì giãm mạnh hơn tiếng ghi-ta và tiếng hát vì mình muốn tiếng bass lúc nào cũng một bực nhất định để giữ nhịp cho giàn nhạc .

Compression cho trống bass:

Cá nhân tui thì tui không compress tiếng trống bass vì tui muốn nó có cái hay nguyên thủy trầm của nó . Bạn dùng cái eq hay cái volume mà căn chỉnh nó . Vả lại nghe trống bass không có mic vào cũng đã phê lắm rồi .

Compression cho tiếng chiêng

Attack: 20ms
Release: 40ms
Threshold: -12dB
Compression ratio: 5:1
Tiếng chiêng cần được nghe cho tự nhiên cho mặc dù nó rất chói . Tui cho nó attach chậm và realease nhanh chút xíu . Nếu nén quá lẹ thì nó làm cho tiếng chiêng không còn bén nửa mà là méo .

Đôi dòng chia sẻ với anh em . Trên đời này không có cái gì là toàn hảo . Bên trên chỉ là những chỉ số thông dụng thôi . Vì theo quan niệm của tui thì cái gì đơn giản nhất là cái làm việc hiệu quả nhất cho dù cấu tạo của nó phức tạp đến bao nhiêu đi nửa . Lấy cái Iphone hay Ipad làm thí dụ . Chúc anh em compression vui vẻ và nhớ cho tui biết thông sô trên cần chỉnh sửa chổ nào cho hợp lý hơn .


Chức năng của mixer và các processor khác như compressor, eq, effect, crossover ... là hoàn toàn khác nhau, phục vụ cho từng mục đích cụ thể, riêng biệt. Nên mỗi thiết bị có 1 nhiệm vụ khác nhau trong giàn máy. Có thể mixer được tích hợp sẵn mạch compressor, effect, crossover, eq(cái này đương nhiên có ở hầu hết các mixer) nhưng tính năng của những phần này không thể bằng các thiết bị rời. 
Có thể bác thấy mixer tốt là không cần compressor, nhưng 2 tính năng của mix và compress là khác nhau. Nếu mixer tốt có thêm compressor tốt thì sẽ hay hơn nhiều phần. 
Cũng giống như 1 cô gái có khuôn mặt đẹp thì không cần trang điểm vẫn cứ đẹp, nhưng nếu chỉ make-up nhẹ nhàng, phù hợp 1 chút nữa thì sẽ còn hấp dẫn hơn, đẹp hơn rất nhiều. Nhưng nếu quá lạm dụng bằng cách tô, trát lòe loẹt thì có thể nhiều người sẽ không thích, gây phản tác dụng. Cách dùng compressor cũng vậy.

Nếu tay "nhà nghề" nào nói như bác trích dẫn ở trên thì em e rằng chưa phải "nhà nghề" đâu. Bởi dùng compressor khó thì rất khó, mà dễ thì cũng rất dễ.
Một ấn phẩm âm nhạc hoàn hảo như CD luôn đạt được 1 CHUẨN MỰC âm thanh tốt nhất mà KHÔNG một giàn nhạc live nào tái hiện được (em không nói là hay hoặc không hay, bởi vì để cảm nhận cái hay còn tùy thuộc vào yếu tố tâm lý khác nữa, mà ở đây chỉ đơn thuần phân tích về khía cạnh kỹ thuật). Lý do rất đơn giản : CD được trải qua rất nhiều công đoạn xử lý, can thiệp kỹ thuật phải nói ở mức hoàn hảo. Chưa đúng, chưa chuẩn lại can thiệp đến lúc chuẩn nhất có thể. Trong rất nhiều công đoạn đó thì compress là không thể thiếu. Nếu toàn bộ các nhạc cụ, vocal chỉ thu trực tiếp (giữ được âm thanh nguyên thủy) mà không xử lý gì thì chắc chắn là nghe rất tệ.

Cái khó của công việc chỉnh sửa là phải phát huy được cái ĐẸP , sự QUYẾN RŨ của âm thanh nguyên thủy. Nó cũng giống như việc mài giũa 1 viên kim cương thô vậy. Cho nên sự can thiệp kỹ thuật chưa tới tầm sẽ làm mất đi cái đẹp nguyên thủy đó, thì thà cứ để thô sơ vậy còn hơn. Câu nói " Sử dụng compressor như con dao 2 lưỡi" là không hề sai. 

Vậy sử dụng compressor như thế nào cho phải? Tất nhiên không có một thông số nào có thể áp dụng cho tất cả mọi trường hợp mà đều đúng , đều hay. Ngay cả các hãng SX cũng đưa ra các thông số chỉ dẫn chung chung, có biên độ giới hạn rộng, và còn khuyến cáo "chỉnh nhưng vẫn phải cảm nhận, đánh giá bằng đôi tai kinh nghiệm để tìm ra thông số phù hợp nhất", như vậy coi bộ hơi khó, không có thông số nhất định nào... Nhưng vấn đề mấu chốt là vẫn có những NGUYÊN TẮC nhất định. Chỉ cần nắm vững nguyên tắc này thì có thể áp dụng compressor ở mọi trường hợp một cách hiệu quả.

GAIN REDUCTION, RATIO, KNEE, ATTACK/RELEASE TIME, là những thông số quan trọng nhất để tạo ra "chất" của âm thanh qua sử lý compress. Sau đó mới đến MAKEUP GAIN (OUTPUT LEVEL) và THRESHOLD. 
- GAIN REDUCTION (GR) là thông số cực kỳ quan trọng, nó cho ta biết âm thanh đã được nén hay chưa, nén ở mức độ nào. Các thông số khác như RATIO, KNEE, ATT/REL TIME... sẽ vô tác dụng nếu như GR không tác động (GR = 0dB). Khi setup thì phải xác định GR maximum, sau đó mới đặt THRESHOLD để GR đạt được mức đã xác định này. Nhưng đa phần người sử dụng lại đặt THRESHOLD trước ở khoảng -5 dB, -10dB... mà không quan tâm xem GR là bao nhiêu, Gain hệ thống là bao nhiêu ??? Vì mỗi hệ thống âm thanh, mỗi cách setup thiết bị sẽ cho ra các giá trị THRESHOLD rất khác nhau. Vậy sao ta lại phải lấy cái thông số có biên độ dao động lớn như vậy làm chuẩn nhỉ ? Với vocal thì GR nên trong khoảng -6dB là tối đa
- ATT time : thông số này quyết định độ nén nhanh hay chậm. Nếu đặt cho vocal thì Live : 10ms~20ms, Studio : 0ms ~ 20ms. Nếu ATT quá nhanh, âm thanh sẽ mượt nhưng dễ bị bí. Nếu quá dài >30ms, âm thanh không có độ tư nhiên.
- REL time : cho vocal em thường để tối thiểu là 700ms, tối đa là 1,2s ~1,5s. Nếu quá ngắn <100ms, âm thanh thiếu độ mượt mà, giảm tác dụng của compressor.
- Ratio : 3:1 ~ 6:1.
- Knee : tùy theo hãng mà có mức soft hay hard knee khác nhau. Nếu là thiết bị digital, cho phép chọn KNEE theo dải , VD từ 1 ~ 10 thì rất tốt. 

Có những nguồn âm có mức biên độ tín hiệu không thay đổi quá nhiều thì có thể cho nén ngay, GR tác động ngay khi vừa có tín hiệu. Còn với vocal thì với đặc điểm biên độ chênh lệch rất lớn, hãy để compressor làm việc khi mức biên độ tín hiệu lớn, còn những lúc trung bình, hoặc hát nhỏ thì đặt threshold sao cho mức GR = -1dB, -2dB hoặc KHÔNG NÉN (GR = 0dB). Chứ setup lúc nào cũng nén, bất kể to nhỏ thì âm thanh sẽ không tối ưu. 

Nếu setup Release time <100ms , thì chỉ nên áp dụng trong công đoạn master trong studio, hoặc compressor tầng thứ 2 với hệ thống âm thanh dùng nhiều compressor.