Đăng ký beat mới!.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng dẫn thu âm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng dẫn thu âm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

TRANG ÂM PHÒNG THU ÂM - PROJECT STUDIO THIẾT KẾ CABIN THU ÂM




Phần lớn các phòng thu âm được xây dựng theo kiểu đa năng hay gọi là Project Studio. Loại phòng thu âm này thường được giới âm nhạc lựa chọn bởi nó đáp ứng nhiều mục đích và tiết kiệm không gian. Từ thu ca tới các nhạc cụ như guitar, bass, keyboard và soạn nhạc điện tử. Tất cả công việc thu âm chỉ sử dụng 1 không gian chung nên việc trang âm, bố trí thiết bị ảnh hưởng tới chất lượng của âm thanh khi thu, khi phát ra cũng như là sản phẩm cuối cùng. Âm thanh khi phát ra phải cân bằng về không gian và tần số.
Cân bằng về không gian
Xuất phát từ sản phẩm âm nhạc là stereo - âm thanh 2 kênh, nên vị trí ngồi kiểm âm phải cân bằng về không gian, tức nguồn âm vào tai bên trái và bên phải phải cân bằng nhau. Ngoài việc bố trí đặt loa kiểm âm cân đối với vị trí tai người nghe, thì cách bố trí thiết bị và nội thất là rất quan trọng để có được âm thanh cân bằng. Cụ thể, dưới đây là 3 hình ảnh mô tả cách bố trí hệ thống thiết bị và trang âm. Ở hình 1, khi vị trí kiểm âm ngồi giữa một bên là cửa sổ kính(màu xanh lam) và bên kia là tường có tấm tán âm. Kết quả là ảnh âm bị lệch vì âm thanh tới vị trí kiểm âm không cân bằng do âm thanh dội từ 2 vật liệu này không giống nhau. Ở hình 2, vị trí sắp đặt cho âm thanh cân bằng tại vị trí kiểm âm. Tương tự ở hình 3, cách bố trí này là tốt hơn cả vì vị trí kiểm âm ít bị âm dội nhất.

Dù bạn xây dựng phòng thu âm ngay từ đầu hay sử dụng 1 phòng sẵn có thì ta đều có thể tìm ra 1 phương án tối ưu để có âm thanh cân bằng về không gian. Đối với phòng có kích thước cân xứng như hình vuông, chữ nhật thì vị trí kiểm âm nên chánh vị trí trung tâm của phòng vì đó là vị trí bị âm dội nhiều nhất.
Dưới đây là 1 ví dụ, từ một phòng không cân xứng có sẵn, ta có thể tìm ra bố trí hợp lý để đặt thiết bị và trang âm.

Với cách bố trí ở hình đầu tiên, kết quả ảnh âm sẽ bị sai lệch vì âm dội 2 kênh trái phải sẽ không cân bằng. Hình thứ 2 và 3 tốt hơn vì ảnh âm cân bằng, đặc biệt ở hình 3 cho chất lượng kiểm âm tốt hơn cả vì ta đã đặt vị trí kiểm âm xa với tường phía sau hơn cả và chánh được vị trí trung tâm của phòng.
Cân bằng tần số
Sự cân bằng tần số mà ta xem xét ở đây là sự cân bằng đáp ứng tần số của phòng, vì bản thân phòng không phát ra âm thanh nên khác với tên gọi sự cân bằng tần số của loa. Âm thanh mà ta nghe được không chỉ có sóng âm trực tiếp từ loa hay nhạc cụ tới lỗ tai, mà bao gồm cả sóng âm phản xạ từ các bức tường, thiết bị, vật cản, ... Tính chất phản xạ của tần số âm thanh khác nhau vì có bước sóng khác nhau nên nó phụ thuộc vào kích thước phòng, tỉ lệ phòng, hình dáng phòng, bề mặt tường,...và kết quả là âm thanh mà ta nghe được không đúng với nguồn âm phát ra, hay có sự mất cân bằng về tần số.
Về lý thuyết, một phòng nghe tiêu chuẩn phải có đáp ứng tần số phòng cân bằng(như hình số 1 miêu tả dưới đây). Mức độ phản xạ âm của tất cả tần số trong vùng nghe được của tai người là như nhau, hiển thị là một đường thẳng ngang màu xanh.

Theo quy luật, nếu ta muốn loại bỏ bớt tần số âm thanh có bước sóng dài (âm bass) thì ta sẽ sử dụng vật liệu hút âm dày và đặc, và ngược lại với tần số cao. Do vậy, nếu ta treo một tấm thảm mỏng lên tường của phòng nghe thì nó sẽ loại bỏ bớt tần số cao dao động trong phòng đó, khả năng hút âm tần số cao thể hiện là đường màu đỏ ở hình số 2 . Tấm thảm lại không có tác động với các tần số thấp nên âm thanh phòng nghe của chúng ta sẽ bị dư bass, thể hiện là đường màu đỏ ở hình 3. Tần số phòng không cân bằng nên khi ta thu và mix, ta có xu hướng giảm bass của nguồn âm vì âm thanh nghe trong phòng dư bass. Do vậy khi ta đưa sản phẩm nghe trên một hệ thống khác, phòng nghe khác ta sẽ thấy sản phẩm thiếu âm bass.
Vậy để giải quyết vấn đề cân bằng tần số cho phòng studio ta phải làm gì? Một vấn đề phức tạp trong việc xây dựng phòng thu âm và project studio nói riêng. Công việc bắt đầu ta luôn phải xác định diện tích sử dụng làm phòng, thiết lập tỉ lệ và hình dáng phòng tiêu chuẩn trên diện tích xây dựng. Bạn cần một chuyên gia để giúp bạn việc xác định tỉ lệ này vì có rất nhiều tỉ lệ tiêu chuẩn nhưng để chọn ra 1 tỉ lệ tối ưu phải dựa vào hình dáng và diện tích ta có. Đối với việc sử dụng 1 phòng có sẵn làm studio thì cũng vậy, ta phải đo đạc và tìm ra tỉ lệ để điều chỉnh phòng cho tối ưu.
Sau khi xây dựng hay sửa phòng với tỉ lệ tiêu chuẩn, ta đặt thiết bị và nội thất dựa trên nguyên lý cân bằng không gian. Công việc tiếp theo là sử dụng thiết bị đo đáp ứng tần số của phòng, vẽ lên đường đáp ứng tần số phòng rồi nhìn vào đó ta có thể biết tính chất phản âm của phòng. Thực tế thì kết quả sẽ không như ta mong đợi, đường đáp ứng tần số phòng không là một đường thẳng năm ngang như lý thuyết vì không chỉ phụ thuộc vào tỉ lệ phòng mà tính chất phản âm còn phụ thuộc vào vật liệu bề mặt xây dựng, nội thất..
Việc tiếp theo là trang âm cho phòng nếu ta muốn đường đáp ứng tần số tịnh tiến tới hình dáng cân bằng. Dựa vào đường đáp ứng tần số đo được, ta biết được những khoảng tần số có độ vang trội hơn và gây ra mất cân bằng, từ đó ta sử dụng vật liệu hút âm có thông số tương ứng để hạn chế nó. Kết quả của việc trang âm là đưa tới thông số đáp ứng tần số của phòng gần với vị trí cân bằng, nó phụ thuộc vào mức độ đầu tư, công sức và trình độ của bạn. Và nên nhớ là bạn không thể đòi hỏi một kết quả tuyệt đối như lý thuyết.
 Việc trang âm cho phòng thu hay phòng nghe là rất cần thiết, và cần thiết hơn là phải làm đúng kỹ thuật. Không phải chất đầy vật liệu hút âm trong phòng mà gọi là trang âm !
Việc thiết kế một cabin thu ca (vocal booth) hay một phòng cách âm cho nhạc cụ đều có mục đích như nhau. Đó là chống nhiễu, tiếng ồn từ bên ngoài và một điều quan trọng nữa là bản thân phòng này không phản ánh sai âm thanh của giọng hát hay nhạc cụ phát ra trong đó. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến cách xây dựng một cabin thu ca.
Xác định kích thước phòng
Cabin thu ca thường có kích thước nhỏ, đủ để 1 hay 2 người đứng hát. Trong khi phòng cách âm cho nhạc cụ thường có diện tích lớn hơn nhiều, chúng thường đủ không gian để chứa 1 ban nhạc. Các chuyên gia thường khuyên sử dụng diện tích từ 0,8m2 tới 3,3m2 và tỉ lệ của mặt sàn là 4x5 hoặc 5x8. Chiều cao có tỉ lệ đẹp là 2m, 2.3m, 2.4m và 2.7m
Xây dựng tường và sàn của phòngTốt nhất, tường và sàn của cabin tách rời với phòng studio hay control. Có nghĩa là phòng cabin nằm trong phòng đặt thiết bị, từ đó chánh được các rung động của phòng có cùng kết cấu. Việc cách âm sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Tường và trần của cabin tối thiểu phải có một lớp thạch cao ở mỗi bên, ở giữa gồm càng nhiều lớp vật liệu cách âm càng tốt. Âm thanh là năng lượng, sóng âm dao động trong không khí làm rung động mọi thứ nên âm thanh càng lớn, chúng ta cần phải sử dụng càng nhiều lớp cách âm nếu muốn cabin yên tĩnh.
 
Thực tế cho thấy là sử dụng thêm 1 lớp thạch cao ở mối bề mặt sẽ làm cho khả cách âm tốt hơn nhiều.
Vật liệu hút âm bên trong tường của cabin ta nên làm bằng bông thủy tin (bông đá) với tỉ trọng càng lớn càng tốt. Và tương tự như lớp chống rung thạch cao, nếu ta sử dụng 2 lớp hút âm thì việc cách âm sẽ trở nên hoàn hảo. Giải thích cho hiệu quả này là năng lượng của sóng âm sẽ suy giảm rất nhiều khi qua 2 lớp chống rung độc lập và 2 lớp hút âm độc lập, hệ số cản trở sẽ tăng theo cấp số nhân.
Sau khi chúng ta đã xách định được kích thước cabin, tường và trần thì tiếp theo đây là các yếu tố khác cần quan tâm.
Thiết kế cửa ra vào
Một điều hiển nhiên là chúng ta nên làm cửa phòng có hướng mở ra bên ngoài vì nếu mở vào trong sẽ gây bất tiện vì cabin có diện tích nhỏ. Không nên sử dụng cửa kính trượt vì sẽ mất nhiều diện tích và tăng diện tích bề mặt phản âm. Một điều quan trọng nữa khi làm cửa là phải đảm bảo mép cửa kín khí.
Thiết kế cửa sổ
Mục đích làm cửa sổ để người bên trong cabin có thể nhìn thấy người chỉ huy bên ngoài ra dấu và giao tiếp vì vậy nên đặt cửa sổ ở vị trí dễ quan sát qua lại. Không nên làm cửa sổ quá lớn vì nó làm tăng diện tích bề mặt phản âm trong cabin. Nên sử dụng loại cửa kính 2 lớp hút chân không để tăng khả năng cách âm cho cabin.
ánh sáng
Nên sử dụng loại đèn có công suất nhỏ và có chiết áp vì cabin nhỏ dễ tăng nhiệt độ trong phòng. Ngoài ra đèn công suất lớn cũng tạo ra vùng điện từ gây nhiễu cho microphone.
Thông gió cho phòng
Một trong những khía cạnh thách thức nhất đối với cách âm là thông gió, làm thống gió cho cabin thì càng khó nhưng rất cần thiết vì cabin có thể tích nhỏ, nhiệt độ trong phòng nóng lên nhanh và oxy cũng nhanh hết.
Nhìn trên hình vẽ, nguyên lý khí động học được áp dụng để đảm bảo cho cabin luôn trong lành và mát mẻ. Không khí nóng sẽ di chuyển lên nên chúng ta sẽ làm lỗ hút gió phía trên trần và ngược lại, ta nên làm lỗ và thổi khí mát từ phía dưới sàn vào cabin. Chúng ta nên xử lý hút âm cho lỗ thông khí và nên sử dụng quạt có tốc độ chậm và tĩnh lặng.
Xử lý âm học cho cabin
Vấn đề thường thấy trong phần lớn các phòng đọc nhỏ (voice-over) là hiệu ứng âm thanh hộp (sound box). Khi làm cabin ta phải xử dụng kết hợp giữa kích thước phòng và vật liệu xử lý âm thanh để kiểm soát được hiệu ứng vang này.
Theo tính toán, cabin có chiều rộng (khoảng cách giữa 2 bức tường song song) từ 1m đến 2,5m sẽ có tần số vang cộng hưởng nằm trong khoảng 150Hz đến 350Hz. Đây mà lý do mà khi thu ca trong cabin nếu không được xử lý thì giọng hát có hiệu ứng hộp, tần số trung thấp bị cộng hưởng.
Sử dụng đúng vật liệu lút âm
Từ nghiên cứu trên, hiển nhiên là trong cabin thu ca thì ta chỉ nên sử dụng vật liệu có khả năng hút âm thanh có tần số trung thấp (150Hz-350Hz). Giọng hát chúng ta phân bố năng lượng mạnh vào khoảng tần số từ 200Hz tới 1500Hz nên nếu sử dụng không đúng vật liệu hút âm hay là vật liệu hút âm chất lượng kém thì không những không đạt được yêu cầu mà còn làm giảm chất lượng thu âm.
Một khó khăn là ở Việt Nam chúng ta hầu như không có đơn vị sản xuất hay nhập khẩu loại vật liệu chuyên dùng này. Lý do cũng một phần vì nhu cầu ít và giá thành của vật liệu nhập khẩu cao. Sau đây chúng tôi chia sẻ cách tự làm vật liệu hút âm:

1)Miếng gắn tường, trần cabin
a) Kích thước tấm: 30x30cm, 60x60cm, 30x60cm, 30x120cm và 60x120cm theo kinh nghiệm thì bạn nên sử dụng 2 loại 30x30cm và 30x120cm vì cabin thu ca có diện tích nhỏ nên việc dùng tấm loại mảnh sẽ dễ sắp đặt và đẹp hơn.
b) Chiều dày tấm: 2inch (5,08cm) và 5inch (7,62cm) sử dụng xen kẽ, loại 5" hiệu quả hơn ở gần khóc của phòng.
c) Cấu tạo tấm: sử dụng gỗ mềm vào xốp làm thành khung có mép ngoài ở mặt ngoài vát 450; mặt sau sử dụng gỗ ép mỏng hoặc bìa giấy cứng gắn với chặt với khung bằng đinh hoặc gim; bông thủy tinh tỉ trọng 100 x 2 lớp với tấm 5" và 1 lớp đối với tấm 2" được bọc lưới rồi được ghim chặt vào mặt sau (bông thủy tinh ngoài thị trường bán có kích thước 60x120cm và tỉ trọng 60/100); sử dụng vải sợi to dày bọc căng toàn bộ mặt trước của tấm rồi gim chặt ra phía sau.
d) Mức độ sử dụng tấm hút âm nhiều hay ít tùy thuộc vào khả năng đầu tư của bạn và dưới đây bà lời khuyên của chuyên gia. Bảng dưới đây chỉ ra mức độ (mét vuông) sử dụng sử dụng tấm hút âm từ MIN (ít nhất) cho tới DARK(nhiều nhất); có 4 loại cabin có chiều cao là 2m, 2.3m, 2.4m và 2.7m; SIZE là diện tích cabin (mét vuông)
2) Tấm hút âm góc
a) Kích thước tấm: hình tam giác đều có cạnh 24" (61cm)
b) Chiều dày tấm: 2" (5cm)
c) Cấu tạo: tương tự như với cách làm tấm hút âm tường
d) Sử dụng: tấm hút âm góc có tác dụng đặc biệt với tần số thấp từ 100Hz nên ta nên sử dụng hết cả 4 góc trên trần của cabin;

Dưới đây là biểu đồ hiển thị ví dụ 2 kết quả của trang âm cho cabin, đường màu xanh lá là đáp ứng tần của cabin khi thu ca nếu không có xử dụng hút âm. Màu cam thể hiện kết quả của trang âm tuy kết quả chưa tốt vì phần tần số dưới 400Hz bị loải bỏ nhất nhiều, đây là kết quả của việc trang âm tối (DARK). Màu xanh biển thể hiện kết quả hoản hảo của việc trang âm cabin thu ca mà chúng ta nhắm tới.


Kiến thức mix nhạc - Mastering

Mastering

Mastering nói nôm na theo mình hiểu là cân chỉnh âm thanh, vocal, tiếng nhạc cụ và beat sao cho hợp lý nhất và có chỗ cho giọng mình ko bị chèn ép giữa các nhạc cụ và beat....
Đây là bước cuối cùng của 1 bài nhạc khi đc mix xong....
– Âm nhạc chỉ được nghe trong không gian phía trước mặt người nghe – 2 chiều (stereo–chiều rộng và chiều sâu). Còn âm thanh surround (5.1, 6.1, 7.1) được ***g trong phim, video tạo hiệu quả bao trùm người xem.

– Mix: pha trộn các âm thanh trong không gian stereo giới hạn bởi 2 loa trái và phải.

– Master: cân chỉnh stereo audio track (đã mix rồi) cho "sạch sẽ" và điều chỉnh âm thanh các stereo audio tracks (đã mix rồi) trong một CD cho cân nhau.

Các phần mềm làm nhạc đều có các công cụ xử lý âm thanh căn bản sau:

– Equalizer (còn được gọi tắt là EQ) để tăng giảm các tần số âm thanh trầm bổng (bass, treble).

– Compressor để nén và gom âm thanh lại – ổn định dao động của âm thanh.

– Delay để tạo hiệu quả chiều rộng cho âm thanh.

– Reverb để tạo hiệu quả chiều sâu cho âm thanh.

Ngoài ra còn có các FX plugins khác giúp điều chỉnh hoặc tạo thêm hiệu quả âm sắc cho âm thanh như: vocoder, phaser, flanger, chorus, distortion, overdrive...

Equalizer

Tại sao gọi là âm thanh có tần số cao là bổng và âm thanh có tần số thấp là trầm? Vì khi nghe qua loa, ta nhận thấy âm thanh có tần số cao hình như ở phía cao trên loa và âm thanh trầm ở phía thấp dưới loa. Điều này cũng đúng trong thanh nhạc, các nốt từ thấp đến cao sẽ được hát từ bụng lên đến đỉnh đầu.

Vậy thì equalizer có chức năng làm cho âm thanh bay lên cao hoặc hạ xuống thấp ở chừng mực vì các bạn không bao giờ làm cho tiếng trầm của đàn bass bay lên cao lơ lững được, cũng như không thể nào kéo tiếng sáo vi vu xuống dưới đất được


Việc cân chỉnh âm thanh bằng equalizer (theo tần số) đôi khi cần thiết trong khi mix – để nâng hiệu quả âm thanh của các track waves và rất quan trọng khi làm master – để nâng hiệu quả âm thanh của bản master stereo trước khi xuất ra thành phẩm để đến tai người nghe.

Tuy nhiên, hãy biết tiết chế việc sử dụng EQ vì nếu âm thanh nhạc cụ đã tốt rồi thì chỉ nên chỉnh EQ khi có lý do như: để phân biệt 2 audio tracks có cùng nhạc cụ và cùng âm sắc, các bạn nên chỉnh EQ của 2 audio tracks này cho khác nhau một chút.

Sau đây là sơ đồ tần số của các nhạc cụ và giọng người so với bàn phím piano:
[IMG]

Sau đây là gợi ý trong việc sử dụng EQ:



Các thông số của EQ gồm có:
– Frequency Gain: để tăng hoặc giảm âm lượng của tần số.
– Frequencies: các tần số
– Q (Bandwidth): bề rộng của tần số
– Output Gain (Trim): âm lượng tổng hợp của EQ
Khi sử dụng FX plugin (công cụ hiệu quả bổ trợ), các bạn sẽ thấy có thêm 2 thông số:
– Dry: âm lượng gốc của audio track
– Wet: âm lượng của FX
Các bạn có thể pha trộn giữa Dry và Wet để tạo ra hiệu quả nhiều hoặc ít cho audio track nếu FX plugin này được sử dụng riêng cho audio track. Còn nếu bạn dùng FX plugin chung cho các audio tracks (qua cổng FX channel, Aux, hoặc Bus) thì các bạn cài Dry = 0 và chỉ chỉnh âm lượng Wet cho phù hợp.

1. Graphic Equalizer (EQ theo đồ thị)


Hình trên là một loại EQ theo đồ thị đơn giản (Graphic EQ của Sony) gồm có 10 cần chỉnh của các tần số đã được ấn định sẳn. Với loại EQ này, việc nâng cao hoặc hạ thấp một tần số cũng sẽ có ảnh hưởng đối với những dãy tần số gần kề (khoảng tần số rộng).

2. Parametric equalizer (EQ theo thông số)
Khi EQ có thêm thông số Q thì sẽ được gọi là Parametric EQ. Thông số Q – Quality (còn được gọi là Chiều Rộng Dãi Tần – Bandwidth) cho phép người sử dụng chỉnh được âm lượng tần số rất chính xác ở dãi tần từ rộng cho đến hẹp.


Giải thích các thông số trong 10–band Parametric EQ của Cakewalk trong hình trên:
– Voice: chọn tần số. Có 8 tần số mà người sử dụng có thể tự ấn định từng tần số một. Ô bên phải của Voice là âm lượng của tần số được chọn (Band) và được tăng giảm bằng cần "gain" ở phần dưới bên phải tương ứng.
– Center Frequency (Hz): Ở giữa tần số. Chọn Band ở Voice bằng cách click vào nút vuông có ghi số từ 1 đến 8 của phần "set" phía dưới bên phải và bật nút "on" để kích hoạt tần số, tiếp đến click kéo thanh –+ để chọn tần số. Thanh -+ kế bên phải – "fine" dùng để chỉnh tần số chính xác hơn.
– Bandwidth (Q): Bề rộng dãi tần. Kéo thanh -+ để mở rộng hoặc thu hẹp dãi tần của tần số. Thanh -+ "fine" để chỉnh dãi tần cho chính xác.
– Monitor: kiểm soát âm lượng EQ ở kênh phải và trái. Click kéo thanh -+ để kiểm soát âm lượng tối đa từ 0 dB đến 30 dB của các cần "gain".
– Shelf: dùng để chỉnh tần số thấp (lo) và tần số cao (hi). Cách chỉnh giống như chỉnh Voice (band).

3. Paragraphic equalizer (EQ theo thông số và đồ thị): bao gồm cả graphic EQ lẫn parametric EQ. Loại EQ này có thể được gọi là EQ đa năng.

Sau đây là các dạng Paragraphic EQ plugins


Waves Paragraphic EQ



Sonitus Paragraphic EQ


Equalizer còn được sử dụng với hiệu quả tăng giảm âm lượng của audio track ngoài Volume. Nhiều khi các bạn chỉ cần chỉnh tăng giảm equalizer cũng làm âm lượng audio track lớn thêm hoặc nhỏ lại mà không cần phải sử dụng Volume.

V. Compressor
Trong một bản mix, các âm thanh gốc (chưa được xử lý) được tập trung lại và là một mớ "hổn độn" dao động, không ổn định. Compressor được sử dụng để nén và ổn định dao động của âm thanh.
Do đó những âm thanh cần được làm rõ cho người nghe sẽ được xử lý qua compressor, thường là: trống kick, tiếng bass, tiếng nhạc cụ solo và giọng hát.
1. Compressor (classic) – Công cụ nén âm thanh dạng cổ điển


Sonitus fx Compressor
Compressor classic (xem hình Sonitus FX Compressor trên) có các thông số sau:
1. Threshold: ngưởng nén, được tính bằng âm lượng dB (decibel). Từ ngưởng âm lượng này trở lên (to hơn), âm thanh sẽ bị nén. Trong hình trên, điểm A khoanh đỏ là ngưởng nén ờ –18 dB.
2. Ratio: Tỷ số nén gồm tử số (điều chỉnh theo người sử dụng) và mẫu số bất biến 1. Âm thanh vượt qua ngưởng nén sẽ bị nén theo tỷ số này.
Thí dụ: khi ngưởng nén (threshold) được đặt ở –18 dB và tỷ suất nén là 3:1 thì nếu âm thanh vào có âm lượng là –12 dB (to hơn ngưởng nén là 6 dB) sẽ bị nén và âm thanh ra sẽ chỉ là –16 dB (to hơn ngưởng nén 2 dB). Như vậy thì âm lượng to hơn ngưởng nén 6 dB đã bị giảm theo hệ số 3 để chỉ còn to hơn ngưởng nén là 2 dB.
3. Knee: đầu gối (vì có dạng cong như đầu gối) chỉnh cho độ nén ở ngưởng nén bị nén ngay tức thì – nén cứng (hard) hoặc bị nén từ từ – nén dịu (soft).
4. Attack: thời gian bắt đầu nén, tính bằng mili–giây (ms). Thí dụ: khi âm thanh to đến ngưởng nén thì sẽ bị nén ngay tức thì (attack = 0 ms) hoặc bị nén trễ hơn 10 mili–giây (attack = 10 ms). Việc chọn nén ngay tức thì thường gây hiệu quả âm lượng bị giảm đột ngột, do đó nên chọn chế độ attack khác 0 ms.
5. Release: nhả nén, tính bằng mili–giây (ms). Đây là khoảng thời gian mà âm lượng bị nén và được chỉnh tùy theo độ ngân dài ngắn của âm thanh bị nén. Sau thời gian này, âm thanh sẽ không bị nén nữa.
6. Gain: tăng âm lượng của compressor.
Việc sử dụng compressor tạo các hiệu quả sau:
– Giúp tăng âm lượng tổng thể của bản mix mà không làm "bể" âm thanh và tạo hiệu quả "trọng lượng" cho âm thanh.
– Giúp cân bằng âm lượng đầu ra khi âm thanh đầu vào to nhỏ không ổn định (giọng hát to nhỏ không đều khi thu qua micro).
– Giúp tạo thêm thời ngân dài của âm thanh bằng cách tăng Release Time lâu hơn thời gian ngân gốc của âm thanh.

2. Compressor/Gate
Loại compressor này có 2 tính năng: nén âm thanh và ngăn âm thanh.Như plugin Cakewalk FX Compressor/Gate (hình trên), ngoài tính năng nén âm thanh, còn có thêm tính năng ngăn không cho tạp âm nền lọt qua plugin (Gate: cổng) và có thêm các thông số sau:
– Gate Threshold: ngưởng cổng ngăn. Dưới ngưởng này, âm thanh bị chận lại không cho qua plugin. Từ ngưởng này trở lên âm thanh vào được cho qua plugin với âm lượng gốc. Trong hình trên, điểm C khoanh xanh là điểm ngăn âm thanh: âm thanh vào có âm lượng dB dưới điểm này sẽ bị ngăn không cho vào plugin. Âm lượng của âm thanh vào trên điểm này sẽ được plugin "mở cổng" cho vào với âm lượng được khống chế bởi tỷ số mở rộng (expander ratio) cho tới ngưởng cổng ngăn. Điểm B khoanh đỏ là ngưởng cổng ngăn.
– Expander Ratio: tỷ số mở rộng. Tính năng tỷ số này ngược lại với tính năng tỷ số nén (compressor ratio). Âm thanh vào sẽ được làm tăng âm lượng theo tỷ số này từ điểm ngăn âm thanh C đến ngưởng cổng ngăn (gate threshold). Từ ngưởng cổng ngăn trở lên, âm lượng ra bằng âm lượng vào. Đến ngưởng nén, âm lượng ra sẽ bị nén lại.
Chỉ sử dụng Gate khi nhận thấy âm thanh gốc bị nhiểu, có tạp âm nền (tiếng "rù", tiếng "xì" do ảnh hưởng nguồn điện hoặc dây audio không có chất lượng tốt). Và khi dùng Gate, phải lưu ý là không nên để âm thanh ra bị mất phần tinh tế ở phần đầu so với âm thanh gốc vào.
Nuendo 3 thì có VST Dynamics với tính năng compressor/gate:



3.Multidynamics


MultiDynamics của WaveArts 5
Loại compressor này thì tiên tiến hơn và chính xác hơn, cho phép nén âm thanh theo từng dãi tần (bandwidth).
Nuendo 3 thì có Multiband compressor:




Mình khuyến mãi thêm cái của luân trường chỉnh sẵn này....nếu ai ko bik thì làm theo lun đi ha....dow phần mềm như trong hình và chinh theo...
[IMG]


Khi tập nghe âm thanh 3 chiều, các bạn hãy cố gắng lưu ý và cố gắng nghe để hiểu độ sâu và độ vòm vì độ sâu và độ vòm tạo rahiệu quả không gian.

Nếu chỉ có chiều rộng (nghe âm thanh bên phải và bên trái riêng biệt nhau), chiều sâu (nghe âm thanh gần và xa), chiều cao (nghe âm thanh chia thành 3 tầng) như bản mix Nỗi Nhớ Mùa Đông dưới đây:

Click to view attachment
thì cũng là âm thanh 3D nhưng thiếu hoàn toàn không gian âm thanh. Trong bản mix trên, các bạn có nghe giọng hát và nền nhạc không ở cùng chung một không gian? Giọng hát bay thoát khỏi không gian nhạc nền. Ngoài ra, bản mix này thiếu độ dầy và không có độ nặng: nghe âm thanh bay phía trên do treble nhiều và reverb, delay quá rõ trong giọng hát. 

Các bạn nghe bản mix acoustic này - Melody Fair để so sánh không gian âm thanh với bản mix Nỗi Nhớ Mùa Đông trên:

Click to view attachment
Các bạn có nghe ra độ vòm (3D), độ dầy và độ nặng trong bản mix này và giọng hát và nền nhạc ở cùng chung không gian. Và tổng thể âm thanh bản mix nghe dễ chịu, cảm giác ca sĩ và ban nhạc diễn trước mắt các bạn.

Độ sâu và độ vòm được tạo ra bằng reverb và delay.

Tôi nhắc lại: để mix không gian âm thanh 3D, các bạn chỉ cần nắm thật kỹ và hiểu thật rõ 6 công cụ:

1. Volume (gần/xa)
2. Pan (trái/phải)
3. EQ (cao/thấp)
4. Compressor (dầy/mỏng)
5. Delay (độ rộng)
6. Reverb (độ sâu)

và chẳng cần phải tìm chi cho thật nhiều VST plugins. Chỉ cần các VST plugins căn bản và cần thiết sau:

- Waves Mercury
- Waves SSL4000
- Lexicon Pantheon II Reverb
- Arts Acoustic Reverb
- Classic Tone CT56
- TRackS 3 

Tôi thường thử nghiệm các VST mới để tìm ra những FX plugins thích hợp trong việc mix nhạc đệm, giọng hát và master bản mix ca khúc. Thích hợp đối với tôi có nghĩa: 

- có hiệu quả rõ rệt khi chỉnh các thông số của VST;
- cho phép chỉnh hiệu quả với nhiều thông số chi tiết;
- tiết kiệm CPU.

Tôi hiện đang sử dụng các VST:

1. Để mix nhạc đệm:

a. Trong Inserts:

- TRackS 3 Opto Compressor, Vintage Compressor
- Waves Compressor
- Waves EQ (3 tần số, 4 tần số và 6 tần số)
- Stillwell Transient Monster (làm mượt nhạc cụ guitar và trống)

Click to view attachment

- SPL Analog EQ
- Classic Tone 56

b. Trong FX Channel:

- Mod delay, Double delay, Mono delay, Stereo delay (của Nuendo 3 và Nuendo 4): tạo chiều rộng
- Pantheon II Reverb: tạo độ sâu
- Blueverb 2: tạo độ sâu
- Arts Acoustic Reverb: tạo độ rộng vòm

2. Để mix giọng hát:

a. Trong Inserts:

- AAY Tube
- TRackS 3 Classic Compressor
- Waves EQ (6 tần số)

b. Trong FX Channel:

- Waves SuperTap 2 Taps (delay để cho giọng hát "bay" ra 2 bên phía trước)
- Pantheon II Reverb (tạo độ sâu)
- Arts Acoustic Reverb (tạo độ rộng vòm)

3. Để master ngay trong bản mix:

Các VST này được cho vào trong Inserts của cổng stereo out của Nuendo:

- Waves SSL4000 Compressor
- Classic Tone 56
- Đôi khi dùng, Pulltone (để sau Classic Tone 56) để làm cho tổng thể âm thanh bản mix "nặng" và "đầy" hơn. Đây là một dạng EQ nhưng chỉ có 2 tần số: bass và treble.
- UV22HR với 16bits, Low
- TRackS 3 Metering để canh mức âm lượng Peak và RMS.

Trong việc sử dụng FX plugins mỗi ngày để thu âm, mix và master âm thanh, giờ tôi chỉ chốt lại một số plugins sau:

1. AAY-Audio aTube
2. Redline Preamp
3. UAD1176-LN
4. TRackS3 Classic Compressor, Opto Compressor
5. TRackS3 White Compressor
5. Compressor C1 mono và stereo của Waves Mercury
6. Các Paragraphic Equalizers của Waves Mercury
7. ClassicTone CT-56 equalizer
8. SuperTap 2-Taps Mod của Waves Mercury
9. Các delays của Nuendo 4
10. Lexicon Pantheon Reverb II
11. ArtsAcoustic Reverb
12. SSL400 Comp Stereo

Còn các plugins khác...không còn hấp dẫn với tôi nữa. Không gian âm thanh 3D và độ dầy, nặng của các bản mix của tôi được tạo ra từ các plugins này trên Nuendo 4.



Kiến thức mix nhạc - không gian

KHÔNG GIAN ÂM THANH 3 CHIỀU TRONG CÁC BẢN MIX CA NHẠC
Không gian âm thanh 3 chiều trong các bản mix ca nhạc 
 
 
 
[+] Click vào để xem hình lớn
A. Âm Thanh Mono Và Âm Thanh Stereo
Âm thanh mono khác với âm thanh stereo như thế nào? Tôi biết chắc là rất ít người nghe ra được không gian âm thanh qua cặp loa được đặt trước mặt, nhưng khi nghe qua cặp loa đeo trên đầu (headphones) thì sẽ phân biệt được âm thanh mono so với âm thanh stereo.

Khi nghe bằng cặp loa đeo trên đầu (headphones) hoặc cặp loa nhét vào tai (earphones) thì sẽ nghe âm thanh bản mix mono gom tại đỉnh đầu, còn âm thanh bản mix stereo sẽ nghe âm thanh bên trái và bên phải tách biệt nhau với giọng hát, trống và bass "bay" ở dỉnh đầu. Nhiều người lầm tưởng đó âm thanh 3 chiều - bên trái, ngay đỉnh đầu và bên phải, nhưng thật ra chỉ là âm thanh 3 nơi.

Hãy nghe thử 2 files sau đây với headphones (hoặc earphones):
- Âm thanh mono
- Âm thanh stereo

B. Âm Thanh Stereo 3 Chiều

Âm thanh 3 chiều gồm có chiều rộng, chiều sâu và chiều cao.

Hãy nghe bản mix này của Alan Parsons với cặp loa được bố trí hai bên, trước mặt với khoảng cách bằng nhau từ loa đến loa và đến đầu người (tạo thành tam giác đều): 
Blue Blue Sky 1

Lưu ý: sẽ không nghe được không gian âm thanh với loa của laptop.

Nếu ai chưa nghe ra thì hãy nghe lại bản mix này cùng lúc với lời giải thích sau:

– Khi giọng hát với đàn guitar thùng xuất hiện thì nghe ra ngay nền âm thanh chim chóc ở sâu sau tiếng hát và tiếng đàn - chiều sâu. Giọng hát rất thực, như đang hát trước người nghe trong công viên. Vì là ngoài trời, không có bao che nên... không có không gian của khán phòng, nên không có tiếng vang dội.

– Tiếng máy bay phản lực bay từ phải qua trái - chiều rộng.

– Tiếng máy bay phản lực đầu tiên bay xé âm thanh trên đầu còn chiếc thứ hai thì bay ngay tầm mắt - chiều cao.
C. Khác biệt giữa bản mix 3D với bản mix không có 3D: 
Đây là nhận xét về sự khác biệt giữa cách mix một ca khúc có âm thanh 3D so với các cách mix không có 3D.:

1. Bản mix 3D có âm thanh rõ nét, trong sáng, "bén" hơn bản mix không 3D.

2. Không gian nền nhạc trong bản mix 3D bao rộng từ trái qua phải giữa 2 loa và có độ vòm.

Bản mix không 3D cũng có thể có không gian rộng từ trái qua phải (do mix với tracks stereo) nhưng không có độ vòm; tệ hơn nữa là toàn bộ âm thanh bị gom giữa.

3. Nghe rõ vị trí các nhạc cụ trong bản mix 3D. Tổng thể âm thanh có chiều rộng, độ rộng, chiều sâu, độ sâu và độ cao.

Bản mix không 3D có thể nghe nhạc cụ xa gần, có độ cao nhưng không có độ sâu, độ rộng; tệ hơn nữa là toàn bộ âm thanh đập vào mặt người nghe.

4. Trong bản mix 3D, nghe rõ âm thanh của từng nhạc cụ và giọng hát, không có âm thanh đè nhau.

Trong bản mix không 3D, giọng hát, trống và bass đè nhạc cụ đệm.

5. Giọng hát trong bản mix 3D nghe ở chung không gian với nhạc đệm, tuy nghe lọt vào phía trong nhạc đệm (nhạc đệm bao quanh toàn bộ giọng hát) nhưng vẫn nghe rất rõ và điều cần phải chú ý: giọng hát từ phía trong bay ra 2 bên tai người nghe.

Còn giọng hát trong bản mix không 3D nằm ngoài không gian nhạc đệm, được gom ở giữa nên lộ rõ ra phía trước (đập vào mặt người nghe) và không bay ra 2 bên tai người nghe = giọng hát đè nền nhạc.

6. Âm lượng vừa nghe với nền nhạc trong sáng, rõ nét từng nhạc cụ và không gian bản mix 3D nghe rất dễ chịu vì có khoảng cách giữa người nghe và âm thanh = bản nhạc đang được biểu diễn trước mặt người nghe.

Âm lượng của bản mix không 3D nghe to, ồn và âm thanh nền nhạc thì nhòe = bản nhạc đập thẳng vào mặt người nghe.

Hãy nghe file âm thanh sau đây qua 2 loa trước mặt, không nghe bằng headphones, không nghe qua loa laptop. File âm thanh này gồm trích đoạn của 2 bản mix, bản mix đầu không có không gian 3D và bản mix sau có không gian 3D.
So sánh âm thanh không và có 3D

Và nghe trích đoạn 2 bản mix tiếp theo đây để hiểu về không gian âm thanh 3D stereo (chứ không phải là âm thanh surround 5.1):

– bản mix với không gian 3D:  
Trích đoạn La Sagrada Familia

– bản mix không có không gian 3D: 
Trích đoạn Gởi người yêu dấu
Đắc Tâm

KHÔNG GIAN BIỂU DIỄN TRONG CÁC BẢN MIX ÂM NHẠC
Không gian biểu diễn trong các bản mix âm nhạc 
 
 
 
[+] Click vào để xem hình lớn
Khi nghe một bài nhạc (ca khúc, nhạc hòa tấu, khí nhạc), hiếm người để ý đến không gian âm thanh mà bài nhạc đang biểu diễn vì cách nghe nhạc phổ biến hiện nay là nghe qua iPod, nghe qua điện thoại di động, nghe qua tai nghe mono/stereo với bài nhạc được nén theo mp3, AAC, wma...thay vì ở dạng wave nguyên thể 44.1kHz 16bit.
Chính vì cách nghe này nên tại Việt Nam, hình thành một kiểu mix âm thanh duy nhất nhằm làm cho rõ ca khúc: âm lượng thật to, toàn bộ nhạc cụ bị gom giữa nên âm thanh ồn và nhòa còn giọng hát thì lộ thật rõ ra phía trước và bay lên trên cao. Phòng thu nào mix với âm lượng to nhất, ồn nhất được đánh giá là phòng thu nổi tiếng.

Cách mix với âm lượng đã làm mất hết tính âm nhạc tinh tế trong bản phối âm - không thể nghe âm thanh của từng nhạc cụ trong tổng thể hòa âm; làm mất đi cảm nhận về không gian biểu diễn của bài nhạc - khán phòng hòa nhạc giao hưởng, sân khấu nhà hát, sân khấu phòng trà, sân khấu ngoài trời, sảnh hòa nhạc thính phòng...

Tôi có thể nói, cách mix âm thanh với âm lượng và không có hiệu quả không gian biểu diễn hiện nay được thực hiện bởi những "chuyên viên âm thanh" không hiểu biết gì về âm thanh (acoustics) hoặc có hiểu biết về âm thanh nhưng không nắm được cách mix để tạo ra không gian âm thanh mong muốn. Tại Việt Nam, hiện chưa có trường đào tạo chuyên môn chánh qui trong lãnh vực âm thanh nên kỹ thuật mix âm thanh thường do mày mò với các trình cài đặt sẳn (presets) của các thiết bị cứng đắt tiền. Đến khi có kỹ thuật thu âm và mix âm thanh trên phần mềm, thì việc mix cũng lại dựa vào các trình cài đặt sẳn của các VST plugins (các phần mềm tạo hiệu quả âm thanh) và đựa vào hiệu quả âm thanh được cài đặt sẳn trong các VSTi (phần mềm âm thanh nhạc cụ ảo).

Hãy nghe các bản mix sau đây với 2 loa trước mặt (không là loa laptop, không là loa vi tính, không là loa đeo tai, không là headphones) để cảm nhận về việc tái hiện không gian biểu diễn trong bản mix:

– Bản mix không có không gian biểu diễn và chỉ với âm lượng to: 
Bản mix với âm lượng

– Bản mix nhạc giao hưởng - không gian phòng hòa nhạc giao hưởng: Trích đoạn Serenade for Strings Orchestra in C major Opus 48

– Bản mix rock sân khấu ngoài trời

– 
Bản mix rock không gian sân khấu nhà hát

– 
Bản mix nhạc acoustic Jazz không gian phòng trà

– 
Bản mix phòng hòa nhạc thính phòng

– 
Bản mix với âm sắc tinh tế sân khấu ngoài trời

Các chuyên viên mix âm thanh của Việt Nam cần phải nghiên cứu về cách nghe không gian âm thanh phù hợp cho từng thể loại nhạc và phải học kỹ thuật mix kỹ hơn nữa để tạo được không gian âm thanh theo yêu cầu của thể loại nhạc sẽ được mix.

Đắc Tâm

Kiến thức mix nhạc - Compressor - Nén

Compr... nen

Compressor1

Compressor là một thiết bị xử lý tín hiệu tự động. Nói một cách chính xác thì đây là một thiết bị chỉnh âm lượng tự động, nếu âm lượng to vượt ngưỡng (threshold) thì tự giảm xuống. Trong trường hợp ta tăng âm lượng của tín hiệu thì tín hiệu nhỏ sẽ được tăng lên mà tín hiệu to vượt ngưỡng sẽ không bị to quá. Do vậy âm thanh sẽ cân bằng hơn.
Threshold
Ngưỡng (threshold) là một mức độ hạn chế tín hiệu do mình tự đặt. Đó là điểm mà tín hiệu sẽ bị ảnh hưởng. Ở ngưỡng là 0 dB thì có nghĩa là chúng ta không nén gì cho tín hiệu âm thanh.
Ratio
Số lượng tín hiệu bị giảm đi được xác định bằng tỷ lệ nén (Ratio). Chẳng hạn, với tỷ lệ 4:1 có nghĩa là khi số lần trung bình của tín hiệu đầu vào vượt ngưỡng là 4dB thì tín hiệu đầu ra chỉ còn vượt ngưỡng là 1 dB. Âm lượng vượt ngưỡng sẽ bị cắt đi là 3 dB. Tương tự như vậy, khi tín hiệu đầu vào vượt ngưỡng 8 dB, thì tín hiệu đầu ra chỉ còn 2 dB, âm lượng bị giảm là 6 dB.
Để hiểu rõ hơn ta xem minh họa sau, với tỷ lệ nén là 4:1
Ngưỡng (Threshold) để là            = −10 dB
Tín hiệu đầu vào (Input) là          = −6 dB (vượt ngưỡng là 4 dB)
Tín hiệu đầu ra (Output) còn        = −9 dB (chỉ 1 dB vượt ngưỡng)
Com1

Attack là thời gian tín hiệu bị nén nhanh hay chậm, khi tín hiệu đến ngưỡng.
Release là thời gian nhanh hay chậm khi tín hiệu bị nén hạ xuống. Trong một số compressor thì thời gian attack và releasecó thể chỉnh được, nhưng trong một số Compressor lại được tự động và không thể điều chỉnh được. Khi chúng ở chế độ tự động thì sẽ tùy thuộc vào tín hiệu đầu vào
Com2
Nén Hard Knee và Soft Knee
Một số Compressor cho phép ta chọn hard knee hay soft knee. Nút này cho phép ta thay đổi hình dạng của góc tín hiệu nén (xem hình trên).  Soft knee tăng dần tỉ lệ nén (ratio) khi tín hiệu tăng cao cho đến khi tới tỷ lệ nén đã được đặt trước. Nếu ta dùng một compressor bình thường, sẽ không có gì xảy ra khi tín hiệu ở dưới ngưỡng, và khi tín hiệu vượt ngưỡng thì compressor sẽ hoạt động và cắt đi các phần vượt ngưỡng. Chẳng hạn ta dùng tỉ lệ RATIO là 4:1thì khi tín hiệu vượt ngưỡng cứ mỗi 4 db tín hiệu đầu vào, compressor sẽ chỉ cho phép 1db vượt ngưỡng. Với Compressor có chức năng nén Hard Knee, thì mức độ tín hiệu bị nén đầy đủ, ngay khi tín hiệu bắt đầu vượt ngưỡng.
Comp3
Soft Knee thì làm việc theo nguyên lý khác, nó nén tín hiệu dần dần khi tín hiệu bắt đầu vượt ngưỡng. Khi tín hiệu đầu vào trong khoảng 10 dB cách ngưỡng thì  compressor bắt đầu nén từ từ với một tỉ lệ thấp, sau đó nó dần tăng lên khi tín hiệu đầu vào tới dần ngưỡng, và khi tín hiệu thực sụ chạm đến ngưỡng thì compressor sẽ nén đầy đủ theo như tỉ lệ đã đặt.
Soft Knee giảm đi những thay đổi có thể nhận biết được từ khi tín hiệu chưa bị nén đến khi bị nén, đặc biệt ở những tỷ lệ nén cao, nơi mà sự thay đổi tổng thể dễ dạng nhận thấy được. Soft knee không nén theo kiểu đợi tín hiệu lên đến ngưỡng và bất thình lình nén đầy đủ theo một tỉ lệ đã đặt mà nó nén tín hiệu một cách từ từ, do vậy âm thanh sẽ mềm hơn và thích hợp khi ta mix tổng thể hoặc những khi âm thanh mềm mại.
Ta dùng Compressor để khống chế cường độ tín hiệu đầu vào, trong trường hợp muốn tín hiệu khi thu được nhỏ và tối ưu hơn tín hiệu đầu vào. Ngoài ra còn dùng để tối ưu tín hiệu đầu ra và tăng cường tính cách của nhạc cụ. Khi tín hiệu đã có vài hiệu ứng Effect rồi thì ta nên để ngưỡng thấp và tỉ lệ nén thấp để cho tín hiệu không bị nén nhiều quá. Để làm mềm tiếng của trống Snare ta dùng thời gian attack nhanh và thời gian release nhanh vừa và kết hợp với  ngưỡng để cao. Để nhấn mạnh vào lực gõ trống snare ta sẽ chọn thời gian attack chậm hơn để tránh ảnh hưởng đến tín hiệu ban đầu.
Cũng nên nhớ là compressor có thể dùng để làm nổi bật những đoạn nhạc có cường độ nhẹ, đẩy âm thanh đã nén nổi lên phía trước. Từ đó những âm thanh trầm sẽ bị kéo lùi về sau và những đoạn nhạc tín hiệu yếu sẽ được tăng cường.
Compressor và Limiter giống nhau, đều là một thiết bị sử lý tín hiệu tự động, chỉ khác ở chỗ mức độ ảnh hưởng đối với phần tín hiệu vượt qua ngưỡng. Compressor thì hoạt động như một thiết bị điều chỉnh âm lượng một cách mềm mại và và không ảnh hưởng nhiều đến quá trình xử lý audio, nhưng Limiter thì can thiệp vào quá trình sử lý tín hiệu nhiều hơn, giảm âm lượng của tín hiệu rõ rệt khi tín hiệu vượt ngưỡng.

Stereo Link
Nút chuyển "Stereo Link" Trên compressor cho phép hai kênh của thiêt bị có thể gắn kết với nhau để xử lý tín hiệu stereo. Ta hãy tưởng tượng là không có chức năng này thì sao? Nếu tín hiệu bên trái to hơn chẳng hạn, tín hiệu đó sẽ bị nén nhiều hơn và ảnh hưởng đến tín hiệu stereo trong khi tín hiệu bên phải lại không được xử lý... Tóm lại chức năng Link ép hai kênh làm việc cùng nhau dựa trên tỉ lệ trung bình của hai kênh tín hiệu. Mỗi nhà sản xuất có một cách thức khác nhau, có thể cách chỉnh và hiệu quả âm thanh sẽ khác nhau.

Tóm lại các nút chỉnh của Compressor là:
INPUT: Âm lượng của tín hiệu đầu vào.
THRESHOLD: Ngưỡng để đặt độ cao của tín hiệu sao cho tín hiệu đến đó sẽ bị nén.
RATIO: Là tín hiệu vượt ngưỡng bị nén nhiều như thế nào trên tỷ lệ bằng dB.
ATTACK: Là thời gian tín hiệu bị nén nhanh hay chậm, khi tín hiệu đến ngưỡng.
DECAY: Là thời gian compressor có hiệu lực khi tín hiệu đầu vào  rớt xuống dưới ngưỡng.
LINK: Để kết nối cân bằng với nhau hai bên tín hiệu stereo.
OUTPUT: Đặt mức độ tín hiệu đầu ra.

Bảng thiết lập Compressor cho các nguồn tín hiệu hay dùng
NGUỒN RELEASEATTACK RATIO HARD/SOFT KNEE GAIN RED 
 Vocal Fast 0.5s/Auto 2:1-8:1 Soft  3 - 8dB
 Rock vocal  Fast 0.3s 4:1 - 10:1 Hard 5 - 15dB
 Acc guitar 5 - 10ms  0.5s/Auto 5 - 10:1 Soft/Hard 5 - 12dB
 Elec guitar 2 - 5ms 0.5s/Auto 8:1 Hard 5 - 15dB 
 Kick và Snare 1 - 5ms 0.2s/Auto 5 - 10:1 Hard 5 - 15 dB
 Bass 2 - 10ms 0.5s/Auto 4 - 12:1Hard  5 - 15dB
 Brass 1 -5ms 0.3s/Auto 6 - 15:1 Hard 8 - 15dB
 Mix tổng thể Fast 0.4s/Auto 2 - 6:1 Soft 2 - 10dB (kích hoạt Stereo
Link)
 Bình thường Fast 0.5s/Auto 5:1 Soft