Đăng ký beat mới!.
Hiển thị các bài đăng có nhãn master. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn master. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Kiến thức mix nhạc - Mastering

Mastering

Mastering nói nôm na theo mình hiểu là cân chỉnh âm thanh, vocal, tiếng nhạc cụ và beat sao cho hợp lý nhất và có chỗ cho giọng mình ko bị chèn ép giữa các nhạc cụ và beat....
Đây là bước cuối cùng của 1 bài nhạc khi đc mix xong....
– Âm nhạc chỉ được nghe trong không gian phía trước mặt người nghe – 2 chiều (stereo–chiều rộng và chiều sâu). Còn âm thanh surround (5.1, 6.1, 7.1) được ***g trong phim, video tạo hiệu quả bao trùm người xem.

– Mix: pha trộn các âm thanh trong không gian stereo giới hạn bởi 2 loa trái và phải.

– Master: cân chỉnh stereo audio track (đã mix rồi) cho "sạch sẽ" và điều chỉnh âm thanh các stereo audio tracks (đã mix rồi) trong một CD cho cân nhau.

Các phần mềm làm nhạc đều có các công cụ xử lý âm thanh căn bản sau:

– Equalizer (còn được gọi tắt là EQ) để tăng giảm các tần số âm thanh trầm bổng (bass, treble).

– Compressor để nén và gom âm thanh lại – ổn định dao động của âm thanh.

– Delay để tạo hiệu quả chiều rộng cho âm thanh.

– Reverb để tạo hiệu quả chiều sâu cho âm thanh.

Ngoài ra còn có các FX plugins khác giúp điều chỉnh hoặc tạo thêm hiệu quả âm sắc cho âm thanh như: vocoder, phaser, flanger, chorus, distortion, overdrive...

Equalizer

Tại sao gọi là âm thanh có tần số cao là bổng và âm thanh có tần số thấp là trầm? Vì khi nghe qua loa, ta nhận thấy âm thanh có tần số cao hình như ở phía cao trên loa và âm thanh trầm ở phía thấp dưới loa. Điều này cũng đúng trong thanh nhạc, các nốt từ thấp đến cao sẽ được hát từ bụng lên đến đỉnh đầu.

Vậy thì equalizer có chức năng làm cho âm thanh bay lên cao hoặc hạ xuống thấp ở chừng mực vì các bạn không bao giờ làm cho tiếng trầm của đàn bass bay lên cao lơ lững được, cũng như không thể nào kéo tiếng sáo vi vu xuống dưới đất được


Việc cân chỉnh âm thanh bằng equalizer (theo tần số) đôi khi cần thiết trong khi mix – để nâng hiệu quả âm thanh của các track waves và rất quan trọng khi làm master – để nâng hiệu quả âm thanh của bản master stereo trước khi xuất ra thành phẩm để đến tai người nghe.

Tuy nhiên, hãy biết tiết chế việc sử dụng EQ vì nếu âm thanh nhạc cụ đã tốt rồi thì chỉ nên chỉnh EQ khi có lý do như: để phân biệt 2 audio tracks có cùng nhạc cụ và cùng âm sắc, các bạn nên chỉnh EQ của 2 audio tracks này cho khác nhau một chút.

Sau đây là sơ đồ tần số của các nhạc cụ và giọng người so với bàn phím piano:
[IMG]

Sau đây là gợi ý trong việc sử dụng EQ:



Các thông số của EQ gồm có:
– Frequency Gain: để tăng hoặc giảm âm lượng của tần số.
– Frequencies: các tần số
– Q (Bandwidth): bề rộng của tần số
– Output Gain (Trim): âm lượng tổng hợp của EQ
Khi sử dụng FX plugin (công cụ hiệu quả bổ trợ), các bạn sẽ thấy có thêm 2 thông số:
– Dry: âm lượng gốc của audio track
– Wet: âm lượng của FX
Các bạn có thể pha trộn giữa Dry và Wet để tạo ra hiệu quả nhiều hoặc ít cho audio track nếu FX plugin này được sử dụng riêng cho audio track. Còn nếu bạn dùng FX plugin chung cho các audio tracks (qua cổng FX channel, Aux, hoặc Bus) thì các bạn cài Dry = 0 và chỉ chỉnh âm lượng Wet cho phù hợp.

1. Graphic Equalizer (EQ theo đồ thị)


Hình trên là một loại EQ theo đồ thị đơn giản (Graphic EQ của Sony) gồm có 10 cần chỉnh của các tần số đã được ấn định sẳn. Với loại EQ này, việc nâng cao hoặc hạ thấp một tần số cũng sẽ có ảnh hưởng đối với những dãy tần số gần kề (khoảng tần số rộng).

2. Parametric equalizer (EQ theo thông số)
Khi EQ có thêm thông số Q thì sẽ được gọi là Parametric EQ. Thông số Q – Quality (còn được gọi là Chiều Rộng Dãi Tần – Bandwidth) cho phép người sử dụng chỉnh được âm lượng tần số rất chính xác ở dãi tần từ rộng cho đến hẹp.


Giải thích các thông số trong 10–band Parametric EQ của Cakewalk trong hình trên:
– Voice: chọn tần số. Có 8 tần số mà người sử dụng có thể tự ấn định từng tần số một. Ô bên phải của Voice là âm lượng của tần số được chọn (Band) và được tăng giảm bằng cần "gain" ở phần dưới bên phải tương ứng.
– Center Frequency (Hz): Ở giữa tần số. Chọn Band ở Voice bằng cách click vào nút vuông có ghi số từ 1 đến 8 của phần "set" phía dưới bên phải và bật nút "on" để kích hoạt tần số, tiếp đến click kéo thanh –+ để chọn tần số. Thanh -+ kế bên phải – "fine" dùng để chỉnh tần số chính xác hơn.
– Bandwidth (Q): Bề rộng dãi tần. Kéo thanh -+ để mở rộng hoặc thu hẹp dãi tần của tần số. Thanh -+ "fine" để chỉnh dãi tần cho chính xác.
– Monitor: kiểm soát âm lượng EQ ở kênh phải và trái. Click kéo thanh -+ để kiểm soát âm lượng tối đa từ 0 dB đến 30 dB của các cần "gain".
– Shelf: dùng để chỉnh tần số thấp (lo) và tần số cao (hi). Cách chỉnh giống như chỉnh Voice (band).

3. Paragraphic equalizer (EQ theo thông số và đồ thị): bao gồm cả graphic EQ lẫn parametric EQ. Loại EQ này có thể được gọi là EQ đa năng.

Sau đây là các dạng Paragraphic EQ plugins


Waves Paragraphic EQ



Sonitus Paragraphic EQ


Equalizer còn được sử dụng với hiệu quả tăng giảm âm lượng của audio track ngoài Volume. Nhiều khi các bạn chỉ cần chỉnh tăng giảm equalizer cũng làm âm lượng audio track lớn thêm hoặc nhỏ lại mà không cần phải sử dụng Volume.

V. Compressor
Trong một bản mix, các âm thanh gốc (chưa được xử lý) được tập trung lại và là một mớ "hổn độn" dao động, không ổn định. Compressor được sử dụng để nén và ổn định dao động của âm thanh.
Do đó những âm thanh cần được làm rõ cho người nghe sẽ được xử lý qua compressor, thường là: trống kick, tiếng bass, tiếng nhạc cụ solo và giọng hát.
1. Compressor (classic) – Công cụ nén âm thanh dạng cổ điển


Sonitus fx Compressor
Compressor classic (xem hình Sonitus FX Compressor trên) có các thông số sau:
1. Threshold: ngưởng nén, được tính bằng âm lượng dB (decibel). Từ ngưởng âm lượng này trở lên (to hơn), âm thanh sẽ bị nén. Trong hình trên, điểm A khoanh đỏ là ngưởng nén ờ –18 dB.
2. Ratio: Tỷ số nén gồm tử số (điều chỉnh theo người sử dụng) và mẫu số bất biến 1. Âm thanh vượt qua ngưởng nén sẽ bị nén theo tỷ số này.
Thí dụ: khi ngưởng nén (threshold) được đặt ở –18 dB và tỷ suất nén là 3:1 thì nếu âm thanh vào có âm lượng là –12 dB (to hơn ngưởng nén là 6 dB) sẽ bị nén và âm thanh ra sẽ chỉ là –16 dB (to hơn ngưởng nén 2 dB). Như vậy thì âm lượng to hơn ngưởng nén 6 dB đã bị giảm theo hệ số 3 để chỉ còn to hơn ngưởng nén là 2 dB.
3. Knee: đầu gối (vì có dạng cong như đầu gối) chỉnh cho độ nén ở ngưởng nén bị nén ngay tức thì – nén cứng (hard) hoặc bị nén từ từ – nén dịu (soft).
4. Attack: thời gian bắt đầu nén, tính bằng mili–giây (ms). Thí dụ: khi âm thanh to đến ngưởng nén thì sẽ bị nén ngay tức thì (attack = 0 ms) hoặc bị nén trễ hơn 10 mili–giây (attack = 10 ms). Việc chọn nén ngay tức thì thường gây hiệu quả âm lượng bị giảm đột ngột, do đó nên chọn chế độ attack khác 0 ms.
5. Release: nhả nén, tính bằng mili–giây (ms). Đây là khoảng thời gian mà âm lượng bị nén và được chỉnh tùy theo độ ngân dài ngắn của âm thanh bị nén. Sau thời gian này, âm thanh sẽ không bị nén nữa.
6. Gain: tăng âm lượng của compressor.
Việc sử dụng compressor tạo các hiệu quả sau:
– Giúp tăng âm lượng tổng thể của bản mix mà không làm "bể" âm thanh và tạo hiệu quả "trọng lượng" cho âm thanh.
– Giúp cân bằng âm lượng đầu ra khi âm thanh đầu vào to nhỏ không ổn định (giọng hát to nhỏ không đều khi thu qua micro).
– Giúp tạo thêm thời ngân dài của âm thanh bằng cách tăng Release Time lâu hơn thời gian ngân gốc của âm thanh.

2. Compressor/Gate
Loại compressor này có 2 tính năng: nén âm thanh và ngăn âm thanh.Như plugin Cakewalk FX Compressor/Gate (hình trên), ngoài tính năng nén âm thanh, còn có thêm tính năng ngăn không cho tạp âm nền lọt qua plugin (Gate: cổng) và có thêm các thông số sau:
– Gate Threshold: ngưởng cổng ngăn. Dưới ngưởng này, âm thanh bị chận lại không cho qua plugin. Từ ngưởng này trở lên âm thanh vào được cho qua plugin với âm lượng gốc. Trong hình trên, điểm C khoanh xanh là điểm ngăn âm thanh: âm thanh vào có âm lượng dB dưới điểm này sẽ bị ngăn không cho vào plugin. Âm lượng của âm thanh vào trên điểm này sẽ được plugin "mở cổng" cho vào với âm lượng được khống chế bởi tỷ số mở rộng (expander ratio) cho tới ngưởng cổng ngăn. Điểm B khoanh đỏ là ngưởng cổng ngăn.
– Expander Ratio: tỷ số mở rộng. Tính năng tỷ số này ngược lại với tính năng tỷ số nén (compressor ratio). Âm thanh vào sẽ được làm tăng âm lượng theo tỷ số này từ điểm ngăn âm thanh C đến ngưởng cổng ngăn (gate threshold). Từ ngưởng cổng ngăn trở lên, âm lượng ra bằng âm lượng vào. Đến ngưởng nén, âm lượng ra sẽ bị nén lại.
Chỉ sử dụng Gate khi nhận thấy âm thanh gốc bị nhiểu, có tạp âm nền (tiếng "rù", tiếng "xì" do ảnh hưởng nguồn điện hoặc dây audio không có chất lượng tốt). Và khi dùng Gate, phải lưu ý là không nên để âm thanh ra bị mất phần tinh tế ở phần đầu so với âm thanh gốc vào.
Nuendo 3 thì có VST Dynamics với tính năng compressor/gate:



3.Multidynamics


MultiDynamics của WaveArts 5
Loại compressor này thì tiên tiến hơn và chính xác hơn, cho phép nén âm thanh theo từng dãi tần (bandwidth).
Nuendo 3 thì có Multiband compressor:




Mình khuyến mãi thêm cái của luân trường chỉnh sẵn này....nếu ai ko bik thì làm theo lun đi ha....dow phần mềm như trong hình và chinh theo...
[IMG]


Khi tập nghe âm thanh 3 chiều, các bạn hãy cố gắng lưu ý và cố gắng nghe để hiểu độ sâu và độ vòm vì độ sâu và độ vòm tạo rahiệu quả không gian.

Nếu chỉ có chiều rộng (nghe âm thanh bên phải và bên trái riêng biệt nhau), chiều sâu (nghe âm thanh gần và xa), chiều cao (nghe âm thanh chia thành 3 tầng) như bản mix Nỗi Nhớ Mùa Đông dưới đây:

Click to view attachment
thì cũng là âm thanh 3D nhưng thiếu hoàn toàn không gian âm thanh. Trong bản mix trên, các bạn có nghe giọng hát và nền nhạc không ở cùng chung một không gian? Giọng hát bay thoát khỏi không gian nhạc nền. Ngoài ra, bản mix này thiếu độ dầy và không có độ nặng: nghe âm thanh bay phía trên do treble nhiều và reverb, delay quá rõ trong giọng hát. 

Các bạn nghe bản mix acoustic này - Melody Fair để so sánh không gian âm thanh với bản mix Nỗi Nhớ Mùa Đông trên:

Click to view attachment
Các bạn có nghe ra độ vòm (3D), độ dầy và độ nặng trong bản mix này và giọng hát và nền nhạc ở cùng chung không gian. Và tổng thể âm thanh bản mix nghe dễ chịu, cảm giác ca sĩ và ban nhạc diễn trước mắt các bạn.

Độ sâu và độ vòm được tạo ra bằng reverb và delay.

Tôi nhắc lại: để mix không gian âm thanh 3D, các bạn chỉ cần nắm thật kỹ và hiểu thật rõ 6 công cụ:

1. Volume (gần/xa)
2. Pan (trái/phải)
3. EQ (cao/thấp)
4. Compressor (dầy/mỏng)
5. Delay (độ rộng)
6. Reverb (độ sâu)

và chẳng cần phải tìm chi cho thật nhiều VST plugins. Chỉ cần các VST plugins căn bản và cần thiết sau:

- Waves Mercury
- Waves SSL4000
- Lexicon Pantheon II Reverb
- Arts Acoustic Reverb
- Classic Tone CT56
- TRackS 3 

Tôi thường thử nghiệm các VST mới để tìm ra những FX plugins thích hợp trong việc mix nhạc đệm, giọng hát và master bản mix ca khúc. Thích hợp đối với tôi có nghĩa: 

- có hiệu quả rõ rệt khi chỉnh các thông số của VST;
- cho phép chỉnh hiệu quả với nhiều thông số chi tiết;
- tiết kiệm CPU.

Tôi hiện đang sử dụng các VST:

1. Để mix nhạc đệm:

a. Trong Inserts:

- TRackS 3 Opto Compressor, Vintage Compressor
- Waves Compressor
- Waves EQ (3 tần số, 4 tần số và 6 tần số)
- Stillwell Transient Monster (làm mượt nhạc cụ guitar và trống)

Click to view attachment

- SPL Analog EQ
- Classic Tone 56

b. Trong FX Channel:

- Mod delay, Double delay, Mono delay, Stereo delay (của Nuendo 3 và Nuendo 4): tạo chiều rộng
- Pantheon II Reverb: tạo độ sâu
- Blueverb 2: tạo độ sâu
- Arts Acoustic Reverb: tạo độ rộng vòm

2. Để mix giọng hát:

a. Trong Inserts:

- AAY Tube
- TRackS 3 Classic Compressor
- Waves EQ (6 tần số)

b. Trong FX Channel:

- Waves SuperTap 2 Taps (delay để cho giọng hát "bay" ra 2 bên phía trước)
- Pantheon II Reverb (tạo độ sâu)
- Arts Acoustic Reverb (tạo độ rộng vòm)

3. Để master ngay trong bản mix:

Các VST này được cho vào trong Inserts của cổng stereo out của Nuendo:

- Waves SSL4000 Compressor
- Classic Tone 56
- Đôi khi dùng, Pulltone (để sau Classic Tone 56) để làm cho tổng thể âm thanh bản mix "nặng" và "đầy" hơn. Đây là một dạng EQ nhưng chỉ có 2 tần số: bass và treble.
- UV22HR với 16bits, Low
- TRackS 3 Metering để canh mức âm lượng Peak và RMS.

Trong việc sử dụng FX plugins mỗi ngày để thu âm, mix và master âm thanh, giờ tôi chỉ chốt lại một số plugins sau:

1. AAY-Audio aTube
2. Redline Preamp
3. UAD1176-LN
4. TRackS3 Classic Compressor, Opto Compressor
5. TRackS3 White Compressor
5. Compressor C1 mono và stereo của Waves Mercury
6. Các Paragraphic Equalizers của Waves Mercury
7. ClassicTone CT-56 equalizer
8. SuperTap 2-Taps Mod của Waves Mercury
9. Các delays của Nuendo 4
10. Lexicon Pantheon Reverb II
11. ArtsAcoustic Reverb
12. SSL400 Comp Stereo

Còn các plugins khác...không còn hấp dẫn với tôi nữa. Không gian âm thanh 3D và độ dầy, nặng của các bản mix của tôi được tạo ra từ các plugins này trên Nuendo 4.



Kiến thức mix nhạc - không gian

KHÔNG GIAN ÂM THANH 3 CHIỀU TRONG CÁC BẢN MIX CA NHẠC
Không gian âm thanh 3 chiều trong các bản mix ca nhạc 
 
 
 
[+] Click vào để xem hình lớn
A. Âm Thanh Mono Và Âm Thanh Stereo
Âm thanh mono khác với âm thanh stereo như thế nào? Tôi biết chắc là rất ít người nghe ra được không gian âm thanh qua cặp loa được đặt trước mặt, nhưng khi nghe qua cặp loa đeo trên đầu (headphones) thì sẽ phân biệt được âm thanh mono so với âm thanh stereo.

Khi nghe bằng cặp loa đeo trên đầu (headphones) hoặc cặp loa nhét vào tai (earphones) thì sẽ nghe âm thanh bản mix mono gom tại đỉnh đầu, còn âm thanh bản mix stereo sẽ nghe âm thanh bên trái và bên phải tách biệt nhau với giọng hát, trống và bass "bay" ở dỉnh đầu. Nhiều người lầm tưởng đó âm thanh 3 chiều - bên trái, ngay đỉnh đầu và bên phải, nhưng thật ra chỉ là âm thanh 3 nơi.

Hãy nghe thử 2 files sau đây với headphones (hoặc earphones):
- Âm thanh mono
- Âm thanh stereo

B. Âm Thanh Stereo 3 Chiều

Âm thanh 3 chiều gồm có chiều rộng, chiều sâu và chiều cao.

Hãy nghe bản mix này của Alan Parsons với cặp loa được bố trí hai bên, trước mặt với khoảng cách bằng nhau từ loa đến loa và đến đầu người (tạo thành tam giác đều): 
Blue Blue Sky 1

Lưu ý: sẽ không nghe được không gian âm thanh với loa của laptop.

Nếu ai chưa nghe ra thì hãy nghe lại bản mix này cùng lúc với lời giải thích sau:

– Khi giọng hát với đàn guitar thùng xuất hiện thì nghe ra ngay nền âm thanh chim chóc ở sâu sau tiếng hát và tiếng đàn - chiều sâu. Giọng hát rất thực, như đang hát trước người nghe trong công viên. Vì là ngoài trời, không có bao che nên... không có không gian của khán phòng, nên không có tiếng vang dội.

– Tiếng máy bay phản lực bay từ phải qua trái - chiều rộng.

– Tiếng máy bay phản lực đầu tiên bay xé âm thanh trên đầu còn chiếc thứ hai thì bay ngay tầm mắt - chiều cao.
C. Khác biệt giữa bản mix 3D với bản mix không có 3D: 
Đây là nhận xét về sự khác biệt giữa cách mix một ca khúc có âm thanh 3D so với các cách mix không có 3D.:

1. Bản mix 3D có âm thanh rõ nét, trong sáng, "bén" hơn bản mix không 3D.

2. Không gian nền nhạc trong bản mix 3D bao rộng từ trái qua phải giữa 2 loa và có độ vòm.

Bản mix không 3D cũng có thể có không gian rộng từ trái qua phải (do mix với tracks stereo) nhưng không có độ vòm; tệ hơn nữa là toàn bộ âm thanh bị gom giữa.

3. Nghe rõ vị trí các nhạc cụ trong bản mix 3D. Tổng thể âm thanh có chiều rộng, độ rộng, chiều sâu, độ sâu và độ cao.

Bản mix không 3D có thể nghe nhạc cụ xa gần, có độ cao nhưng không có độ sâu, độ rộng; tệ hơn nữa là toàn bộ âm thanh đập vào mặt người nghe.

4. Trong bản mix 3D, nghe rõ âm thanh của từng nhạc cụ và giọng hát, không có âm thanh đè nhau.

Trong bản mix không 3D, giọng hát, trống và bass đè nhạc cụ đệm.

5. Giọng hát trong bản mix 3D nghe ở chung không gian với nhạc đệm, tuy nghe lọt vào phía trong nhạc đệm (nhạc đệm bao quanh toàn bộ giọng hát) nhưng vẫn nghe rất rõ và điều cần phải chú ý: giọng hát từ phía trong bay ra 2 bên tai người nghe.

Còn giọng hát trong bản mix không 3D nằm ngoài không gian nhạc đệm, được gom ở giữa nên lộ rõ ra phía trước (đập vào mặt người nghe) và không bay ra 2 bên tai người nghe = giọng hát đè nền nhạc.

6. Âm lượng vừa nghe với nền nhạc trong sáng, rõ nét từng nhạc cụ và không gian bản mix 3D nghe rất dễ chịu vì có khoảng cách giữa người nghe và âm thanh = bản nhạc đang được biểu diễn trước mặt người nghe.

Âm lượng của bản mix không 3D nghe to, ồn và âm thanh nền nhạc thì nhòe = bản nhạc đập thẳng vào mặt người nghe.

Hãy nghe file âm thanh sau đây qua 2 loa trước mặt, không nghe bằng headphones, không nghe qua loa laptop. File âm thanh này gồm trích đoạn của 2 bản mix, bản mix đầu không có không gian 3D và bản mix sau có không gian 3D.
So sánh âm thanh không và có 3D

Và nghe trích đoạn 2 bản mix tiếp theo đây để hiểu về không gian âm thanh 3D stereo (chứ không phải là âm thanh surround 5.1):

– bản mix với không gian 3D:  
Trích đoạn La Sagrada Familia

– bản mix không có không gian 3D: 
Trích đoạn Gởi người yêu dấu
Đắc Tâm

KHÔNG GIAN BIỂU DIỄN TRONG CÁC BẢN MIX ÂM NHẠC
Không gian biểu diễn trong các bản mix âm nhạc 
 
 
 
[+] Click vào để xem hình lớn
Khi nghe một bài nhạc (ca khúc, nhạc hòa tấu, khí nhạc), hiếm người để ý đến không gian âm thanh mà bài nhạc đang biểu diễn vì cách nghe nhạc phổ biến hiện nay là nghe qua iPod, nghe qua điện thoại di động, nghe qua tai nghe mono/stereo với bài nhạc được nén theo mp3, AAC, wma...thay vì ở dạng wave nguyên thể 44.1kHz 16bit.
Chính vì cách nghe này nên tại Việt Nam, hình thành một kiểu mix âm thanh duy nhất nhằm làm cho rõ ca khúc: âm lượng thật to, toàn bộ nhạc cụ bị gom giữa nên âm thanh ồn và nhòa còn giọng hát thì lộ thật rõ ra phía trước và bay lên trên cao. Phòng thu nào mix với âm lượng to nhất, ồn nhất được đánh giá là phòng thu nổi tiếng.

Cách mix với âm lượng đã làm mất hết tính âm nhạc tinh tế trong bản phối âm - không thể nghe âm thanh của từng nhạc cụ trong tổng thể hòa âm; làm mất đi cảm nhận về không gian biểu diễn của bài nhạc - khán phòng hòa nhạc giao hưởng, sân khấu nhà hát, sân khấu phòng trà, sân khấu ngoài trời, sảnh hòa nhạc thính phòng...

Tôi có thể nói, cách mix âm thanh với âm lượng và không có hiệu quả không gian biểu diễn hiện nay được thực hiện bởi những "chuyên viên âm thanh" không hiểu biết gì về âm thanh (acoustics) hoặc có hiểu biết về âm thanh nhưng không nắm được cách mix để tạo ra không gian âm thanh mong muốn. Tại Việt Nam, hiện chưa có trường đào tạo chuyên môn chánh qui trong lãnh vực âm thanh nên kỹ thuật mix âm thanh thường do mày mò với các trình cài đặt sẳn (presets) của các thiết bị cứng đắt tiền. Đến khi có kỹ thuật thu âm và mix âm thanh trên phần mềm, thì việc mix cũng lại dựa vào các trình cài đặt sẳn của các VST plugins (các phần mềm tạo hiệu quả âm thanh) và đựa vào hiệu quả âm thanh được cài đặt sẳn trong các VSTi (phần mềm âm thanh nhạc cụ ảo).

Hãy nghe các bản mix sau đây với 2 loa trước mặt (không là loa laptop, không là loa vi tính, không là loa đeo tai, không là headphones) để cảm nhận về việc tái hiện không gian biểu diễn trong bản mix:

– Bản mix không có không gian biểu diễn và chỉ với âm lượng to: 
Bản mix với âm lượng

– Bản mix nhạc giao hưởng - không gian phòng hòa nhạc giao hưởng: Trích đoạn Serenade for Strings Orchestra in C major Opus 48

– Bản mix rock sân khấu ngoài trời

– 
Bản mix rock không gian sân khấu nhà hát

– 
Bản mix nhạc acoustic Jazz không gian phòng trà

– 
Bản mix phòng hòa nhạc thính phòng

– 
Bản mix với âm sắc tinh tế sân khấu ngoài trời

Các chuyên viên mix âm thanh của Việt Nam cần phải nghiên cứu về cách nghe không gian âm thanh phù hợp cho từng thể loại nhạc và phải học kỹ thuật mix kỹ hơn nữa để tạo được không gian âm thanh theo yêu cầu của thể loại nhạc sẽ được mix.

Đắc Tâm

Kiến thức mix nhạc - Compressor - Nén

Compr... nen

Compressor1

Compressor là một thiết bị xử lý tín hiệu tự động. Nói một cách chính xác thì đây là một thiết bị chỉnh âm lượng tự động, nếu âm lượng to vượt ngưỡng (threshold) thì tự giảm xuống. Trong trường hợp ta tăng âm lượng của tín hiệu thì tín hiệu nhỏ sẽ được tăng lên mà tín hiệu to vượt ngưỡng sẽ không bị to quá. Do vậy âm thanh sẽ cân bằng hơn.
Threshold
Ngưỡng (threshold) là một mức độ hạn chế tín hiệu do mình tự đặt. Đó là điểm mà tín hiệu sẽ bị ảnh hưởng. Ở ngưỡng là 0 dB thì có nghĩa là chúng ta không nén gì cho tín hiệu âm thanh.
Ratio
Số lượng tín hiệu bị giảm đi được xác định bằng tỷ lệ nén (Ratio). Chẳng hạn, với tỷ lệ 4:1 có nghĩa là khi số lần trung bình của tín hiệu đầu vào vượt ngưỡng là 4dB thì tín hiệu đầu ra chỉ còn vượt ngưỡng là 1 dB. Âm lượng vượt ngưỡng sẽ bị cắt đi là 3 dB. Tương tự như vậy, khi tín hiệu đầu vào vượt ngưỡng 8 dB, thì tín hiệu đầu ra chỉ còn 2 dB, âm lượng bị giảm là 6 dB.
Để hiểu rõ hơn ta xem minh họa sau, với tỷ lệ nén là 4:1
Ngưỡng (Threshold) để là            = −10 dB
Tín hiệu đầu vào (Input) là          = −6 dB (vượt ngưỡng là 4 dB)
Tín hiệu đầu ra (Output) còn        = −9 dB (chỉ 1 dB vượt ngưỡng)
Com1

Attack là thời gian tín hiệu bị nén nhanh hay chậm, khi tín hiệu đến ngưỡng.
Release là thời gian nhanh hay chậm khi tín hiệu bị nén hạ xuống. Trong một số compressor thì thời gian attack và releasecó thể chỉnh được, nhưng trong một số Compressor lại được tự động và không thể điều chỉnh được. Khi chúng ở chế độ tự động thì sẽ tùy thuộc vào tín hiệu đầu vào
Com2
Nén Hard Knee và Soft Knee
Một số Compressor cho phép ta chọn hard knee hay soft knee. Nút này cho phép ta thay đổi hình dạng của góc tín hiệu nén (xem hình trên).  Soft knee tăng dần tỉ lệ nén (ratio) khi tín hiệu tăng cao cho đến khi tới tỷ lệ nén đã được đặt trước. Nếu ta dùng một compressor bình thường, sẽ không có gì xảy ra khi tín hiệu ở dưới ngưỡng, và khi tín hiệu vượt ngưỡng thì compressor sẽ hoạt động và cắt đi các phần vượt ngưỡng. Chẳng hạn ta dùng tỉ lệ RATIO là 4:1thì khi tín hiệu vượt ngưỡng cứ mỗi 4 db tín hiệu đầu vào, compressor sẽ chỉ cho phép 1db vượt ngưỡng. Với Compressor có chức năng nén Hard Knee, thì mức độ tín hiệu bị nén đầy đủ, ngay khi tín hiệu bắt đầu vượt ngưỡng.
Comp3
Soft Knee thì làm việc theo nguyên lý khác, nó nén tín hiệu dần dần khi tín hiệu bắt đầu vượt ngưỡng. Khi tín hiệu đầu vào trong khoảng 10 dB cách ngưỡng thì  compressor bắt đầu nén từ từ với một tỉ lệ thấp, sau đó nó dần tăng lên khi tín hiệu đầu vào tới dần ngưỡng, và khi tín hiệu thực sụ chạm đến ngưỡng thì compressor sẽ nén đầy đủ theo như tỉ lệ đã đặt.
Soft Knee giảm đi những thay đổi có thể nhận biết được từ khi tín hiệu chưa bị nén đến khi bị nén, đặc biệt ở những tỷ lệ nén cao, nơi mà sự thay đổi tổng thể dễ dạng nhận thấy được. Soft knee không nén theo kiểu đợi tín hiệu lên đến ngưỡng và bất thình lình nén đầy đủ theo một tỉ lệ đã đặt mà nó nén tín hiệu một cách từ từ, do vậy âm thanh sẽ mềm hơn và thích hợp khi ta mix tổng thể hoặc những khi âm thanh mềm mại.
Ta dùng Compressor để khống chế cường độ tín hiệu đầu vào, trong trường hợp muốn tín hiệu khi thu được nhỏ và tối ưu hơn tín hiệu đầu vào. Ngoài ra còn dùng để tối ưu tín hiệu đầu ra và tăng cường tính cách của nhạc cụ. Khi tín hiệu đã có vài hiệu ứng Effect rồi thì ta nên để ngưỡng thấp và tỉ lệ nén thấp để cho tín hiệu không bị nén nhiều quá. Để làm mềm tiếng của trống Snare ta dùng thời gian attack nhanh và thời gian release nhanh vừa và kết hợp với  ngưỡng để cao. Để nhấn mạnh vào lực gõ trống snare ta sẽ chọn thời gian attack chậm hơn để tránh ảnh hưởng đến tín hiệu ban đầu.
Cũng nên nhớ là compressor có thể dùng để làm nổi bật những đoạn nhạc có cường độ nhẹ, đẩy âm thanh đã nén nổi lên phía trước. Từ đó những âm thanh trầm sẽ bị kéo lùi về sau và những đoạn nhạc tín hiệu yếu sẽ được tăng cường.
Compressor và Limiter giống nhau, đều là một thiết bị sử lý tín hiệu tự động, chỉ khác ở chỗ mức độ ảnh hưởng đối với phần tín hiệu vượt qua ngưỡng. Compressor thì hoạt động như một thiết bị điều chỉnh âm lượng một cách mềm mại và và không ảnh hưởng nhiều đến quá trình xử lý audio, nhưng Limiter thì can thiệp vào quá trình sử lý tín hiệu nhiều hơn, giảm âm lượng của tín hiệu rõ rệt khi tín hiệu vượt ngưỡng.

Stereo Link
Nút chuyển "Stereo Link" Trên compressor cho phép hai kênh của thiêt bị có thể gắn kết với nhau để xử lý tín hiệu stereo. Ta hãy tưởng tượng là không có chức năng này thì sao? Nếu tín hiệu bên trái to hơn chẳng hạn, tín hiệu đó sẽ bị nén nhiều hơn và ảnh hưởng đến tín hiệu stereo trong khi tín hiệu bên phải lại không được xử lý... Tóm lại chức năng Link ép hai kênh làm việc cùng nhau dựa trên tỉ lệ trung bình của hai kênh tín hiệu. Mỗi nhà sản xuất có một cách thức khác nhau, có thể cách chỉnh và hiệu quả âm thanh sẽ khác nhau.

Tóm lại các nút chỉnh của Compressor là:
INPUT: Âm lượng của tín hiệu đầu vào.
THRESHOLD: Ngưỡng để đặt độ cao của tín hiệu sao cho tín hiệu đến đó sẽ bị nén.
RATIO: Là tín hiệu vượt ngưỡng bị nén nhiều như thế nào trên tỷ lệ bằng dB.
ATTACK: Là thời gian tín hiệu bị nén nhanh hay chậm, khi tín hiệu đến ngưỡng.
DECAY: Là thời gian compressor có hiệu lực khi tín hiệu đầu vào  rớt xuống dưới ngưỡng.
LINK: Để kết nối cân bằng với nhau hai bên tín hiệu stereo.
OUTPUT: Đặt mức độ tín hiệu đầu ra.

Bảng thiết lập Compressor cho các nguồn tín hiệu hay dùng
NGUỒN RELEASEATTACK RATIO HARD/SOFT KNEE GAIN RED 
 Vocal Fast 0.5s/Auto 2:1-8:1 Soft  3 - 8dB
 Rock vocal  Fast 0.3s 4:1 - 10:1 Hard 5 - 15dB
 Acc guitar 5 - 10ms  0.5s/Auto 5 - 10:1 Soft/Hard 5 - 12dB
 Elec guitar 2 - 5ms 0.5s/Auto 8:1 Hard 5 - 15dB 
 Kick và Snare 1 - 5ms 0.2s/Auto 5 - 10:1 Hard 5 - 15 dB
 Bass 2 - 10ms 0.5s/Auto 4 - 12:1Hard  5 - 15dB
 Brass 1 -5ms 0.3s/Auto 6 - 15:1 Hard 8 - 15dB
 Mix tổng thể Fast 0.4s/Auto 2 - 6:1 Soft 2 - 10dB (kích hoạt Stereo
Link)
 Bình thường Fast 0.5s/Auto 5:1 Soft

Kiến thức mix nhạc - EQ

Một trong những sai lầm lớn nhất khi dùng EQ để làm tăng (Boost) hoặc cắt bỏ (Cut) những tần số trên và thấp nhất của nhạc cụ. Những tầm này vượt xa hơn tần số cơ bản của nhạc cụ. Sau đây là cách dùng Equalizer (EQ) hiệu quả cho các nhạc cụ và giọng hát
Dùng cho Vocal:
Việc Boost tầng số (frequency) thấp hầu hết không thích hợp cho giọng nữ, nhưng sẽ rất hiệu quả cho giọng nam với một giới hạn nào đó. Tăng tần số thấp từ 500Hz đến 800Hz sẽ thêm phần thân (body) và âm hơn cho giọng hát. Hầu hết những giọng hát rõ ràng riêng biệt tầm từ 3.5 đến 6kHz. Ở tầm này sẽ làm tăng tiếng hơi thở cũng như tăng tòan bộ giọng hát và giọng đọc. Cách tăng này cũng có nhiều bất lợi. Tăng quá nhiều ở tầm này sẽ tăng những tiếng "sụyt" của việc phát âm chữ S. Nếu gặp tình huống này, bạn cắt bỏ từ 3.5kHz xuống 6kHz để sửa. Cẩn thận đây là tầm nổi bật của giọng đọc và Cut quá nhiều sẽ làm giọng ca bị đục. Mặc dù để nổi bật giọng hát có thể thêm từ 1kHz đến 3kHz, nhưng nói chung tầm từ 3kHz đến 6kHz phù hợp cho cho tất cả các giọng.
Kick Drum (trống Bass)
Rất khó ảnh hưởng để Boost tầng số Kick Drum dưới 60Hz. Có một số ứng dụng trong nhạc Dance hiện đại với bộ trống điện tử đạt được dưới 50Hz. Những tầng số thấp từ 20Hz đến 40Hz có thể nghe được từ ôtô đóng kín cửa hay những kiến trúc kín khác. Những sóng thấp này có thể nghe được từ khỏang cách xa. Đối với lọai Kick Drum phổ biến, âm đập (thump) thường có tầm từ 60Hz đến 100kHz, và nâng tiếng Slap từ 1.5KHz đến 3kHz của bass guitar sẽ làm 2 âm thanh này quyện vào nhau. Nâng tần số Kick Drum từ 100Hz đến quá 2kHz sẽ làm tiếng trống Kick và guitar Bass sẽ bị "tức" và "đục". Hãy để Kick Drum từ 1.5kHz đến 3kHz, và tiếng dây guitar Bass thật rõ, sẽ làm cho âm sắc Bass nền hay hơn.
Snare Drum
Những bản audio hồi xưa, thường để tầng số thấp nhất của snare dum từ 1 - 2 kHz, thường thấy trong lọai Modern Rock hoặc Country. Đến thể lọai Disco 70s hay nhạc Cowboy đường phố vào những năm 80, Snare được dùng như cái bóng mờ như Kick Drum, thường từ 150Hz đến 200Hz. Đến ngày nay, nhiều lọai nhạc còn Mix cả snare và kick có tầng số gần nhau đến không nhận ra được. Thường gọi là hiệp ứng "Double Time". không có quy luật chung nào cho EQ trống Snare. Khi bạn dùng Micro thu trống Snare, hãy cẩn thận đừng để âm thanh trống vang lên quá cao như những trống điện tử, những tầng số thấp khi được Boost sẽ làm tiếng Snare bị "mập". Nói chung, nếu bạn muốn tiếng Snare cứng cáp hơn, bạn chỉnh EQ khỏang từ 5kHz đến 5kHz.
trống Toms
Tùy thuộc vào âm vang của Toms, tầm lý tưởng từ 150hz đến 2kHz. Những tầng số thấp thích hợp cho các âm thanh percussive sâu, nhưng thông thường Cut tầng số khỏang từ 1kHz đến 3kHz.
Cymbals Fortunately, cymbals remain fairly constant and predictable over many types of music. Their dominant energy lies in the 2 kHz to 5 kHz region. Cymbal harmonics extend up to and past the range of human hearing. Boosting of cymbals in the 10 kHz to 12 kHz region results in a very brittle sound. Usually, boosts in the dominant area of 2 kHz to 3 kHz makes the overall mix less "wet" or "noisy" than boosting in the upper region.
Electric Bass
As with the discussion of drums, boosting lower frequencies to try to create more depth than what is available is a common mistake. Most bass guitar energy lies around 100 Hz with definition in the 1 kHz to 2 kHz region. Boosting of very low frequencies will result in a "muddy" clash with the kick drum. Letting the kick drum make the fundamental, and the bass guitar rounding out the low midrange just above the kick drum results in a more clear discernible mix. The kick drum can have high definition attack for the initial hit while the bass guitar string harmonics can provide the sustaining definition for the sound.
Electric Lead or Steel Guitar
The most important rule for equalizing guitars is to realize that harmonic series content not available at the source cannot be generated or synthesized at the mixer. Most guitar and steel guitar energy lie between 80 Hz and 5 kHz. Boosting the 3 to 5 kHz range will add clarity to clean guitars but will sometimes add harsh harmonics to a distorted guitar.
Acoustic Guitar
The same frequency range applies to the acoustic guitar as the lead electric guitar. One common mistake is to listen to the acoustic guitar too much by itself rather that with the entire band. One common mistake with the solo acoustic guitar is to add too much bass. A solo acoustic guitar seems to need more low frequency boost to round out the sound than it does when played with a set of other instruments. If the low frequencies are excessively boosted, this results in a very muddy relationship with the overall mix. Remember that the acoustic rhythm guitar is as much a percussive timing component as a melodic component. Its high frequency spectrum is most essential to the "sizzle" of the program material.
Overall Equalization
Excessive boosts of cuts in the main system EQ will drastically effect the decisions made at the individual channel EQ. One method of enhancing vocal clarity is to make sure that all other instrument individual mixer channel equalizations do not occupy the 3.5 kHz to 4 kHz band so much. The perception of presence of vocals and instruments can also be simulated by restricting other instruments to have dominant energy in that band. One common mistake for a sound engineer to make by listening to each instrument individually is to make each instrument sound very clear and present. It is easy to boost all instruments in this 3 kHz to 4 kHz range. The separation of sounds is more often achieved by spacing their dominant energy in bands not significantly occupied by others.
The most obvious mistake is excessive amounts of equalization. Experimentation with an equalizer in a home stereo system is a valuable tool to recognition of the various frequency bands. In summary, live or recorded mixing is very objectionable, and remember not everyone will have the same opinion.
Thats all in a nutshell. Have fun and I hope you've found this guide useful. If you've learned something or you have further clarifications, feel free to drop us an email. We'll love to hear from you!

Kiến thức mix nhạc - Mix và Mastering


Biên Soạn: NS Đắc Tâm

Cách Thức Mix

Cách thức mix âm thanh được gợi ý dưới đây không phải là nguyên tắc và có thể đúng với người này nhưng sẽ không đúng với người kia. Chính vì vậy mà mix là một nghệ thuật tùy thuộc vào đôi tai và kiến thức âm nhạc của người mix. Và không bài hát nào được mix giống bài hát nào.

1. Mix âm thanh từ trầm đến cao:
Vì tiếng trống và tiếng bass là âm thanh nền của bài hát nên không có âm thanh nào được phép át hoặc che lắp 2 âm thanh này.
– Tắt tất cả các tracks, sau đó nâng âm lượng trống kick, chỉnh compressor, EQ, delay sao cho tiếng kick này phù hợp với loại nhạc: pop, rock, jazz, blues, hiphop, techno...
– Nâng âm lượng tiếng bass, chỉnh compressor, EQ, delay sao cho tiếng bass nghe nặng và đầy, to hơn nhưng không che lắp tiếng trống kick.
– Sau đó tuần tự chỉnh tiếng snare, tiếng hihat, tiếng toms, tiếng cymbals và bộ gõ.
– Chỉ sau khi hoàn chỉnh phần hòa quyện giữa bộ trống và tiếng bass, bạn tiếp tục mix dần các nhạc cụ khác cũng theo nguyên tắc từ trầm đến cao căn cứ trên nền âm lượng của trống và bass. Mỗi nhạc cụ đều phải có chỗ của nó trong bài nhạc, không bị nhạc cụ khác che lắp với trống và bass làm nền.

2. Phân bố vị trí các nhạc cụ để tạo hiệu quả không gian stereo (sử dụng DELAY) và hiệu quả chiều sâu (sử dụng VOLUME + REVERB). Việc bố trí các nhạc cụ phải, trái, trước sau tùy thuộc vào sở thích cá nhân. Tuy không có công thức mẫu nhưng bạn cũng nên tham khảo cách thức bố trí nhạc cụ theo thể loại nhạc từ các đĩa audio CD của các ban nhạc và ca sĩ Mỹ nổi tiếng.

3. Giọng hát chính sẽ được mix sau cùng. Giọng hát phải “lọt” vào chung với không gian của nhạc cụ và không nên quá to. Có thể theo tỷ lệ 50/50 hoặc 60 giọng hát/40 nhạc. Giọng hát quá to sẽ lộ ra phía trước và tách biệt ra khỏi dàn nhạc. Bạn hãy nghe audio CD của các ca sĩ Mỹ để có nhận xét về quan điểm mix này.
Còn audio CD của Việt Nam ta? Giọng hát to, lộ ra phía trước và che lắp nhạc đệm. Lý do? Xin dành cho bạn nhận xét và đánh giá.

4. Hiện nay, có khuynh hướng sử dụng kỹ thuật “Normalize” đến mức lạm dụng (ngay cả các chuyên gia mix của Mỹ cũng áp dụng kỹ thuật này) nhằm tăng âm lượng bài nhạc tối đa để thích hợp cho tất cả các loại máy hát, từ máy dàn “xịn” cho đến máy CD “xí muội”.
Bạn có thể chọn lựa cách mix: hoặc mix cho dàn máy tốt (âm lượng vừa phải với chất lượng âm thanh tinh tế), hoặc mix cho máy hát CD rẻ tiền (giọng hát và nhạc cụ đều to tối đa).
Hãy nhìn dạng sóng audio của bài “You Light Up My Life” (đĩa audiophile cho dàn máy “xịn”) – sóng nằm trong khoảng giữa – 6.0 dB:
và của bài “Lady of Dream” – Kitaro (đĩa audio thị trường) – sóng vượt đến mức 0 dB (bị đứt đầu):
5. Trong quá trình mix, bạn hãy chọn một bài hát cùng thể loại đã được sản xuất tại Mỹ (tốt nhất là một bài thuộc hàng top ten) để so sánh với bản mix của bạn, để suy nghiệm và hoàn thiện kỹ thuật mix của bạn.

6. Điều rất lạ là sau khi tưởng như đã hoàn chỉnh bản mix, vài ngày sau đó hoặc cả tuần sau đó, khi nghe lại bản mix này, bạn sẽ cảm thấy không hài lòng và bị thôi thúc phải mix lại ! Nếu bạn luôn có cảm nhận này và luôn phải ngồi mix trở lại bản đã được mix thì chắc chắn bạn sẽ trở thành một chuyên gia mix âm thanh giỏi.

Mastering

Một bài nhạc sau khi được mix hoàn chỉnh cũng cần phải được “master” lại. Master có nghĩa là Chủ, là Thầy nhưng trong nghệ thuật thì có nghĩa là “Chánh”, “Gốc”. Bản audio Master sẽ được dùng để in ra các bản thương mại.
Kỹ thuật mastering thường dùng EQ và Compressor để cân chỉnh sao cho các tần số âm thanh hòa quyện với nhau để cho âm thanh tổng thể của bản mix có chất lượng và nghe đầy đặn hơn.
Và mastering còn được thực hiện để điều chỉnh âm lượng và chất lượng các bài hát trong một chương trình audio CD cho cân nhau.
Thu âm, mix và master vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật, mà nghệ thuật thì không có công thức mẫu và không thể chỉ dạy được. Vậy thì bạn hãy quên đi những gì đã đọc trong loạt bài “Xử Lý Âm Thanh Trên Vi Tính” và hãy phát huy tài năng và cái riêng của bạn trong việc đi tìm cái “đẹp” trong âm thanh.